Kiên định tăng trưởng hai con số: Khẳng định bản lĩnh và tầm vóc của đất nước!
Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 2 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định, mục tiêu tăng trưởng kinh tế "hai con số" là đòi hỏi khách quan từ yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới và khát vọng vươn lên của cả dân tộc.
Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu các ban, bộ, ngành, địa phương, người dân, doanh nghiệp cần quán triệt sâu sắc 4 nguyên tắc cốt lõi: Tăng trưởng thực chất; kiên định nguyên tắc ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn; tận dụng hiệu quả mọi nguồn lực sẵn có, tập trung ưu tiên cho các dự án trọng điểm và thúc đẩy hợp tác công - tư, để gia tăng hiệu quả đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; tăng trưởng kinh tế cao phải đảm bảo phục vụ lợi ích, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và công bằng xã hội.
PV Báo CAND đã có cuộc trao đổi với GS.TS Hoàng Văn Cường, Ủy viên Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội về nội hàm của 4 nguyên tắc mà Tổng Bí thư đưa ra, đồng thời phân tích những thách thức, cơ hội và bài học để đạt được mục tiêu đề ra.
PV: Thưa ông, ông có thể phân tích nội hàm của 4 nguyên tắc mà Tổng Bí thư Tô Lâm đưa ra trong phát triển kinh tế, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số?
GS.TS Hoàng Văn Cường: Về nguyên tắc thứ nhất là tăng trưởng thực chất, tức là không đánh đổi chất lượng, tính bền vững lấy tốc độ tăng trưởng đơn thuần.
Theo tôi, để tăng trưởng thực chất, chúng ta phải thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ dựa vào vốn và lao động giá rẻ sang mô hình dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Mô hình hiện tại dựa trên vốn và lao động giá rẻ sẽ không tạo ra được những bước bứt phá cho nền kinh tế, đặc biệt là rất khó vượt qua bẫy thu nhập trung bình để trở thành nước phát triển có thu nhập cao theo mục tiêu 100 năm thành lập nước.
Vì vậy, Đảng đã xác định phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng truyền thống sang mô hình mới dựa vào khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, bởi chỉ có con đường này mới tạo ra sự phát triển bứt phá.
Ở mô hình cũ, lao động Việt Nam chủ yếu đảm nhận các khâu có giá trị gia tăng thấp như lắp ráp, gia công. Chúng ta chưa làm chủ được công nghệ hay chuỗi giá trị mà chỉ tiếp nối những khâu giá trị thấp để các chủ thể khác hưởng phần giá trị gia tăng cao. Điều này khiến năng suất lao động của Việt Nam hiện ở mức thấp trên thế giới.
Khi thực hiện chuyển đổi sang khoa học công nghệ, chúng ta sẽ làm chủ công nghệ, lực lượng lao động sẽ dịch chuyển lên những khâu có hàm lượng tri thức, kỹ thuật cao, từ đó năng suất lao động và tốc độ tăng trưởng mới có thể đạt mức bứt phá vượt bậc.
Kinh nghiệm thế giới cho thấy, để vượt qua bẫy thu nhập trung bình, nền kinh tế phải có giai đoạn phát triển bứt phá với tốc độ tăng trưởng hai con số duy trì trong một khoảng thời gian đủ dài. Chính vì vậy, mỗi phần trăm tăng trưởng phải đi liền với tăng năng suất và tăng các nhân tố tổng hợp (TFP) để nâng cao chất lượng thay vì chỉ chạy theo quy mô. Trong GDP, tỷ trọng đóng góp của công nghệ và trí tuệ phải thay thế cho lao động giá rẻ.
Đây là sự phát triển bền vững và ổn định, nơi các thành tựu của hôm nay không làm ảnh hưởng đến lợi ích của thế hệ mai sau. Nếu dựa vào tài nguyên và lao động giá rẻ, tăng trưởng có thể nhanh nhưng sẽ làm cạn kiệt nguồn lực tương lai; còn dựa vào trí tuệ sẽ tạo nền tảng vững chắc. Đặc biệt, khi dân số Việt Nam đang chuyển từ giai đoạn dân số vàng sang già hóa, việc nâng cao trình độ công nghệ cho lao động trẻ là vô cùng cấp thiết để họ có thể đảm nhận các khâu công nghệ cao ngay cả khi bước sang giai đoạn già hóa.
Về nguyên tắc thứ 2: Kiên định nguyên tắc ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn.
Thực tế, nguyên tắc này là chìa khóa thành công của Việt Nam trong những năm qua trước những biến động bất thường của thế giới. Dù kinh tế thế giới chao đảo bởi dịch bệnh, xung đột địa chính trị hay chiến tranh thương mại, kinh tế Việt Nam vẫn đứng vững và trở thành điểm đến đầu tư triển vọng. Nền tảng của thành tựu này là việc giữ vững ổn định vĩ mô, tạo ra môi trường đầu tư an toàn và hấp dẫn.
Trong điều hành, chúng ta đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Sự phối hợp linh hoạt này vừa tạo môi trường vĩ mô ổn định, vừa tạo nguồn lực hỗ trợ sản xuất kinh doanh phát triển hiệu quả.
Nguyên tắc thứ ba là tận dụng hiệu quả mọi nguồn lực sẵn có, tập trung ưu tiên cho các dự án trọng điểm và thúc đẩy hợp tác công - tư, để gia tăng hiệu quả đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Trong giai đoạn cần thúc đẩy nhanh tăng trưởng, việc đầu tư vào hệ thống hạ tầng xương sống là cơ sở cốt lõi. Tuy nhiên, trong bối cảnh ngân sách có hạn, chúng ta phải có chiến lược đầu tư tập trung, lựa chọn những dự án thực sự trọng điểm và nhanh phát huy tác dụng để đầu tư dứt điểm, tránh dàn trải gây kéo dài dòng vốn. Khi các công trình này đi vào vận hành sẽ tạo tác động lan tỏa, tạo nguồn lực để tái đầu tư.
Bên cạnh nguồn lực nhà nước, cần huy động nguồn vốn tư nhân thông qua cơ chế hợp tác công tư. Thực tế cho thấy nhiều công trình hạ tầng do tư nhân đầu tư đã hoàn thành nhanh chóng và đạt hiệu quả khai thác cao, góp phần hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng quốc gia bằng nguồn lực tổng hợp của xã hội.
Và nguyên tắc thứ 4 là tăng trưởng kinh tế cao phải đảm bảo phục vụ lợi ích, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và công bằng xã hội.
Nguyên tắc này thể hiện bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, nơi mục tiêu phát triển cuối cùng là mang lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho mọi người dân theo phương châm phát triển bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau. Mọi chương trình phát triển không chỉ hướng đến hiệu quả kinh tế đơn thuần mà phải đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội tổng hợp, đáp ứng sự bình đẳng trong tiếp cận của người dân.
Khi mục tiêu tăng trưởng gắn liền với lợi ích của nhân dân sẽ huy động được sức mạnh đồng thuận và đoàn kết toàn dân. Thành công của Việt Nam trong những năm qua, điển hình như trong phòng chống dịch bệnh và ứng phó thiên tai, chính là nhờ đặt lợi ích và sức khỏe người dân lên trên hết, từ đó nhận được sự đồng lòng của mọi tầng lớp xã hội.
Bốn nguyên tắc mà Tổng Bí thư nêu ra không chỉ là những yêu cầu điều hành kinh tế trước mắt, mà là một hệ tiêu chuẩn định hướng cho toàn bộ quá trình phát triển trong giai đoạn mới. Đây không chỉ là kim chỉ nam về tư duy, mà còn thể hiện tầm vóc, bản lĩnh của đất nước Việt Nam: Sẵn sàng đương đầu và vượt qua mọi thử thách, kiên định và đồng lòng để đạt mục tiêu đề ra.
PV: Gần đây, những khó khăn từ tác động của thế giới và những khó khăn nội tại như giá xăng dầu tăng cao, tỷ giá, lãi suất, lạm phát tăng đã tác động tới nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, chúng ta đã điều hành nền kinh tế chủ động, linh hoạt, thích ứng và đã khẳng định được đường lối đúng đắn, khả năng chống trụ của nền kinh tế...
GS.TS Hoàng Văn Cường: Nhìn lại giai đoạn biến động vừa qua, kinh tế thế giới được đánh giá là có nhiều chao đảo bất thường, nhưng Việt Nam đã đạt được những kết quả tăng trưởng đáng ghi nhận, được thế giới đánh giá là "ngôi sao sáng" trong điều hành kinh tế. Dù tiềm lực kinh tế của chúng ta chưa mạnh và còn phụ thuộc vào khu vực FDI cũng như thị trường mở, nhưng chúng ta đã thích ứng được với những đứt gãy cung ứng và khủng hoảng địa chính trị. Điều này chứng minh năng lực điều hành linh hoạt, chủ động và sáng suốt của Chính phủ.
Thành công đó còn đến từ sự phối hợp đồng bộ: Trung ương Đảng kịp thời ban hành các nghị quyết đường hướng, Quốc hội đồng hành sát sao trong việc ban hành khung khổ pháp lý, và Chính phủ hành động quyết liệt, cụ thể. Chính phương thức điều hành sát sao và tinh thần đồng lòng của doanh nghiệp, người dân đã tạo nên sức mạnh tổng hợp cho những thành công lớn lao của đất nước.
PV: Trước mắt, sẽ có nhiều khó khăn thách thức với mục tiêu tăng trưởng 2 con số bền vững. Theo ông, đó là những khó khăn gì, và chúng ta cần chuẩn bị như thế nào để vượt qua thách thức?
GS.TS Hoàng Văn Cường: Mục tiêu tăng trưởng hai con số là thách thức không nhỏ, đặc biệt khi ngay từ đầu năm đã xuất hiện nhiều yếu tố bất lợi. Trong nước, nhu cầu vốn cho tăng trưởng đang gặp khó khăn khi lãi suất huy động tăng lên, kéo theo lãi suất cho vay tăng. Đồng thời, tăng trưởng tín dụng phải được kiểm soát để bảo đảm an toàn hệ thống, khiến nguồn lực từ khu vực ngân hàng buộc phải điều chỉnh.
Ở bên ngoài, các yếu tố địa chính trị tiếp tục tạo áp lực lên nền kinh tế. Xung đột tại một số khu vực đã đẩy giá dầu tăng cao, làm chi phí đầu vào của nền kinh tế tăng lên. Lạm phát từ bên ngoài kết hợp với lạm phát trong nước khiến chi phí sản xuất bị đẩy lên, ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng.
Trong bối cảnh đó, để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số, trước hết cần duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát ở mức phù hợp và giữ tỷ giá ổn định. Đây là điều kiện quan trọng để nhà đầu tư yên tâm, từ đó duy trì và mở rộng hoạt động đầu tư. Cần sử dụng mạnh hơn các công cụ chính sách tài khóa. Chính sách tài khóa phải hỗ trợ giảm chi phí đầu vào cho nền kinh tế, đồng thời, cần tăng cường điều hành nguồn cung, bảo đảm không xảy ra đứt gãy.
Song song với thách thức, chúng ta cũng sẽ đón những cơ hội đang mở ra. Biến động tại một số khu vực trên thế giới khiến môi trường đầu tư thay đổi, Việt Nam có thể tranh thủ cơ hội để thu hút dòng vốn quốc tế, đặc biệt khi hình thành các trung tâm tài chính quốc tế nhằm tăng sức hấp dẫn với nhà đầu tư.
Bên cạnh đó, việc chủ động mở rộng thị trường xuất khẩu cũng được xem là hướng đi quan trọng. Việt Nam có thể tận dụng lợi thế để mở rộng thị trường và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị.
Nhiệm vụ trọng tâm lúc này là bảo đảm "kiềng ba chân” vĩ mô: Ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát ở mức phù hợp và giữ tỷ giá ổn định. Đây chính là nền vững chắc để các nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn mà không lo ngại về các tác động tiêu cực của biến động tỷ giá hay lạm phát. Khi nền đã vững, tăng trưởng sẽ tự khắc đến một cách thực chất hơn.
PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Doanh nghiệp phải tiên phong trong thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Thủ tướng: Để tăng trưởng 2 con số cần chuyển đổi cơ cấu kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới