Ngựa trong pháp luật thời xưa

Thứ Ba, 17/02/2026, 16:03

Ngựa là loài vật gần gũi trong cuộc sống người Việt từ lâu, không chỉ dùng để kéo xe mà còn là phương tiện nghi lễ, giao thông và đánh trận, do đó, nó cũng được xuất hiện khá nhiều trong hình luật thời xưa.

Theo sử sách từ thời nhà Triệu của nước Nam Việt cai trị nước ta, ngựa chưa phải là loài vật phổ biến. Đến tận cuối nhà Hồ, khi giặc Minh chiếm được nước ta năm 1407, lúc thống kê những thứ đã thu được, thì cả nước ta lúc đó có 3.129.500 hộ dân, 112 con voi, 35.750 con trâu bò, nhưng chỉ có 420 con ngựa.

Tuy nhiên, ngựa vẫn được mô tả là con vật quen thuộc phục vụ việc di chuyển của các bậc quyền quý. Như “Đại Việt sử ký toàn thư” mô tả cảnh Vua Lê Hoàn cưỡi ngựa ra ngoài thành đón sứ giả nhà Tống, rồi sóng ngựa cùng viên sứ giả vào thành Hoa Lư.

Ngựa trong pháp luật thời xưa_ANTGCT_TET2026_T24 -0
Hình ảnh ngựa trên Anh đỉnh trong bộ Cửu đỉnh, đúc thời Vua Minh Mạng.

Luật hình liên quan đến ngựa hiện có thể thấy trong bộ “Quốc triều hình luật” ban hành dưới thời Vua Lê Thánh Tông. Tuy nhiên, ngược về thời Lý, Trần, vẫn thấy có những sắc lệnh ban hành liên quan đến loài vật này. Điển hình, vào năm Thiên Thuận thứ nhất, đời Vua Lý Thần Tông, nhà vua xuống chiếu rằng nước đang có tang Vua Lý Nhân Tông, dân chúng không được cưỡi ngựa và đi võng màu lam, xe che màn.

Đời Vua Lý Anh Tông, năm 1150, sử ghi triều đình đem xử bọn phản nghịch là Đỗ Ất hình phạt “cưỡi ngựa gỗ” (thượng mộc mã), với chú giải là thứ hình phạt thời cổ, đem tội nhân đóng đinh lên tấm ván, đi bêu chợ rồi đưa ra pháp trường tùng xẻo.

Quy chế xe ngựa dành cho quý tộc và các quan thời Trần bắt đầu được quy định rõ ràng vào cuối thời Vua Trần Thái Tông. Năm Nguyên Phong thứ 4 (1254), sử ghi vào tháng 5, triều đình: “Định quy chế xe kiệu, mũ áo và người hầu cho tôn thất và các quan văn võ theo thứ bậc khác nhau. Từ tôn thất cho đến quan ngũ phẩm đều được đi kiệu, ngựa và võng”.

Do quy chế xe ngựa trong lúc tang lễ của triều Trần chưa được rõ ràng, nên khi đang để tang Vua Trần Thánh Tông mới hơn 3 tháng, viên Ngự sử đại phu Đỗ Quốc Kế đã tâu lên Vua Trần Nhân Tông rằng: "Phàm để tang không nên làm thương tổn người sống. Nay, thiên tử đều dùng kiệu khiêng, thế là người sống bị tổn thương, xin hãy cưỡi ngựa". Nhà vua nghe theo lời tâu này, chuyển sang cưỡi ngựa và chỉ dùng yên trắng.

Tuy nhiên, chuyện này đã bị sử thần nhà Lê là Ngô Sĩ Liên phê bình rằng: “Xem lời tâu của Quốc Kế, chẳng những học vấn nông cạn mà kiến thức cũng thấp hèn. Cưỡi ngựa không phải là điều nên làm trong tang chế mà cứ xin cưỡi ngựa... Nhân Tông đang có tang, không nhận ra điều sai trái đó mà lại lầm lẫn làm theo thì cũng không phải”.

Quy chế dùng máu ngựa trắng cho lễ ăn thề của các quan của nhà Lê sơ được sử sách ghi lại trong “Toàn thư” được ghi vào năm Thiệu Bình thứ nhất, khi Vua Lê Thái Tông mới lên ngôi. Đời Vua Lê Nhân Tông, trong sự kiện nhà vua gả Đà Quốc công chúa cho con trai công thần Lê Lăng, có ghi quyền lợi của phò mã là “được ban chức Phò mã đô úy, lại ban cho y phục tước hầu và ngựa trong tàu nhà vua”.

Một vụ vi phạm luật lệ liên quan đến ngựa được chính sử ghi lại thời Vua Lê Thánh Tông. Đó là sự việc vào năm Quang Thuận thứ 8 (1467), khi nhà vua cho thu lại quân quyền Tây quân đô đốc của Lê Thiệt, vì con Thiệt là Bá Đạt đang giữa ban ngày phóng ngựa ra phố, dung túng gia nô đánh người. Còn bộ hình luận lớn nhất của triều Lê được ban hành vào những năm niên hiệu Hồng Đức cũng dưới thời Vua Lê Thánh Tông, nên còn được gọi là Bộ luật Hồng Đức, số điều luật liên quan đến ngựa lên tới gần 20 điều.

Điển hình như Điều 82 (tức Điều 33, Chương “Vệ cấm”) quy định về việc xuống ngựa ở những nơi tôn nghiêm: “Những người được vào hoàng thành, theo lệ phải xuống ngựa, kiệu quá chỗ giới hạn mà không xuống thì phải phạt tiền 60 quan, người chủ ty dung túng không cấm thì phải phạt tiền 5 quan, người chủ thủ phải phạt 50 roi”.

Hay, Điều 209 (Điều 113, Chương “Vi chế”): “Những người đi qua trước cửa Thái miếu mà không xuống kiệu hay xuống ngựa, thì bị tội đồ hay tội lưu, qua trước cửa cung điện, cũng bị tội như thế”.

Ngựa trong pháp luật thời xưa_ANTGCT_TET2026_T24 -0
Kỵ binh triều Nguyễn.

Ngựa, xe của vua dùng là bộ mặt của quốc gia, nên nếu không được chăm chút sẽ bị phạt nặng. Điều 17, Chương “Vi chế”, tức Điều 113, Luật Hồng Đức quy định: “Xe ngựa không sửa sang rèn tập, đồ đóng xe không đủ, không tốt thì xử phạt 70 trượng, biếm 3 tư, chưa dâng lên để vua dùng thì được giảm tội 2 bậc”.

Lấy ngựa của vua thì sẽ bị tội chết, điều đó được thể hiện trong Điều 26, Chương “Trá ngụy”, tức Điều 540, trong bộ luật: “Đánh lừa để lấy ngựa của nhà vua ra cưỡi thì xử tội lưu; để ngựa chết hay lạc mất thì phải bồi thường gấp 3; người giữ ngựa biết mà để cho lấy cưỡi thì xử cùng một tội; không biết, được giảm nhẹ tội 2 bậc”.

Voi, ngựa là những vũ khí quan trọng của quân đội Đại Việt, nên nếu trong quân đội, không chăm lo voi, ngựa cũng bị xử tội rất nặng, như trong Điều 622, tức Điều 70, Chương “Tạp luật”: “Những viên quản đội không rèn tập voi ngựa, thì phải phạt 60 roi, biếm một tư; chăn nuôi không khéo để voi ngựa chết thì xử tội đồ và phải đền tiền, voi đực thì đền 100 quan, voi cái 50 quan, ngựa 20 quan”.

Trong Bộ luật Hồng Đức cũng có một điều khoản rất thú vị mượn điển tích “Chỉ hươu nói ngựa”. Đó là trong Chương 5 “Trá ngụy”, tức Điều 547 trong tổng luật, quy định xử những tội gian dối, viết rằng: "Bề tôi tâu việc mà dối trá (dâng sổ sách hay dâng thư cũng vậy) thì xử tội lưu hay tội chết”. Điều luật này giải thích thêm: "Nghĩa là nói dối vua những việc phi lý, như là việc chỉ con hươu mà nói là con ngựa của Triệu Cao đời nhà Tần”, liên quan đến câu chuyện được chép trong sách “Sử ký Tư Mã Thiên”, về việc Triệu Cao lừa dối Tần Nhị Thế.

Ngựa cũng là phương tiện giao thông quan trọng thời phong kiến, nên Luật Hồng Đức có điều luật quy định về việc sử dụng ngựa trong giao thông. Đó là Điều 553, tức điều đầu tiên trong Chương “Tạp luật”, quy định: “Người vô cớ mà phóng ngựa chạy trong phố phường, đường ngõ trong kinh thành, hay là trong đám đông người, thì xử phạt 60 trượng. Nếu vì thế mà làm bị thương hay chết người thì xử tội nhẹ hơn tội đánh bị thương hay chết người 1 bậc; làm bị thương hay chết súc vật thì phải đền số tiền theo sự mất giá”. Tất nhiên, nếu người cưỡi ngựa vì việc công hay tư cần phải đi gấp mà phóng ngựa chạy thì không phải tội; còn vì thế mà làm bị thương hay chết người thì xử theo tội vì lầm lỡ để xảy ra.

Luật thời Nguyễn cũng có quy định hạn chế phi ngựa trong kinh thành như vậy. Vào năm Gia Long thứ 17 (1818), nhà vua ban hành điều cấm về kinh thành hơn 20 điều, trong đó có điều thứ nhất là: “Không được cưỡi ngựa chạy trong hoàng thành; ở trong kinh thành có cưỡi ngựa thì phải gò cương đi thong thả”; và điều thứ 21 là: “Phàm cưỡi ngựa đi qua cửa thành và các cầu đều phải xuống đi chân”.

Cũng như Luật Hồng Đức, bộ hình luật thời Nguyễn, tức “Hoàng Việt luật lệ”, còn gọi là Luật Gia Long, cũng quy định phi ngựa làm người chết hay bị thương đều bị đánh trượng và đền bù cho nạn nhân. Điều 265 Luật Gia Long về hành vi "Phóng xe và ngựa sát thương người" được quy định như sau: "Phàm kẻ nào vô cớ phóng xe, ngựa ở nơi phố phường, thị trấn, nhân đó làm người khác bị thương thì giảm 1 bậc so với tội đánh nhau gây thương tích thông thường. Làm chết người thì phạt đánh 100 trượng, lưu đày 3.000 dặm”.

Ngoài ra: “Kẻ nào vô cớ phóng xe, ngựa ở nơi thôn quê, ngoài cánh đồng vắng vẻ nhân đó làm người khác bị thương (không làm chết người thì không bị xử tội); làm chết người thì bị phạt đánh 100 trượng. Các tội đã phạm kể trên đều bị truy thu 10 lạng bạc mai táng phí. Nếu kẻ nào vì công vụ cấp tốc mà phóng nhanh, gây sát thương người khác thì xử theo luật “lỡ tay” (theo luật thu tiền chuộc tội cấp cho gia đình người đó)".

Đi kèm theo đó là điều lệ khá hợp lý: "Phàm kẻ nào cưỡi ngựa xô vào người khác làm bị thương thì ngoài việc xét xử theo luật ra còn phải đem con ngựa đã cưỡi đó cấp cho người bị thương. Nếu người bị ngựa xô phải mà chết thì con ngựa đó xem sung công".

Ngoài ra, ngựa của dân cũng được coi như trâu, bò, đều được pháp luật thời xưa bảo vệ, việc trộm cắp gia súc đều bị xử phạt. Luật Hồng Đức quy định tới mấy điều khoản về tội này, như Điều 580, tức Điều 28, Mục “Tạp luật”, viết rằng: “Những người tự tiện giết trâu ngựa, thì xử phạt 80 trượng và phải nộp tiền giá con trâu ngựa ấy vào công khố. Thấy ai đem thịt trâu ngựa ra chợ bán mà người coi chợ và xã quan sở tại không cấm thì đều xử phạt 80 trượng”.

Điều 584 viết: “Những kẻ nhận bậy trâu, ngựa, thuyền bè của người khác thì xử phạt 80 trượng và phải bồi thường tiền gấp đôi; nếu lại cố ý tranh thì xử biếm 1 tư và bồi thường như trên. Đánh chết hay đâm chết trâu ngựa của người khác thì xử phạt 70 trượng, biếm 3 tư, và đền tiền gấp đôi; đánh trâu, ngựa bị thương thì xử phạt 50 roi, biếm 1 tư; đền tiền tùy theo thương tích nặng nhẹ”. Nếu bắt được ngựa đi lạc, phải trình quan và đăng yết thị để người mất được biết, còn nếu không sẽ bị xử “biếm” (giáng chức) hay tội đồ. Đó là quy định của Điều 686.

Trong khi đó, Luật Gia Long có điều thứ 239 về tội “Đạo mã ngưu súc sản”, nói rằng: “Phàm ăn trộm ngựa, trâu, heo, dê, gà, chó, ngỗng, vịt của dân gian, kể giá trị của tang vật ấy, lấy tội trộm mà xử”.

Điều này cũng quy định rằng, nếu ăn trộm trâu, ngựa của quan thì lấy tội “thường nhân trộm vật của quan luận tội”, tức bị xử nặng hơn 1 bậc nữa.

Lê Tiên Long
.
.