Khoảng cách lớn giữa mỹ thuật đương đại và công chúng
Mỹ thuật đương đại Việt Nam trong những năm gần đây không thiếu những người làm nghề nghiêm túc, không thiếu những cá nhân dám thử nghiệm và đi xa, nhưng lại thường xuyên bị ngắt quãng bởi những khoảng trống của môi trường xung quanh. Những bảo tàng được xây dựng ngày càng lớn, nhưng bên trong vẫn chưa đầy ắp hơi thở của đời sống đương đại.
Những triển lãm vẫn diễn ra, nhưng chưa đủ để tạo nên sự kết nối bền bỉ giữa nghệ sĩ và công chúng. Nghệ sĩ trẻ bước vào nghệ thuật với nhiều khát vọng, song sớm phải đối diện với bài toán mưu sinh, buộc họ phải lựa chọn giữa tiếp tục sáng tạo hay tìm một con đường khác để tồn tại.
1. Không thể phủ nhận rằng mỹ thuật đương đại Việt Nam đã có những bước chuyển đáng kể so với quá khứ trước đây. Ngày càng nhiều nghệ sĩ thử nghiệm những hình thức thể hiện mới, mở rộng chất liệu, phá bỏ khuôn khổ hội họa truyền thống.
Tranh không còn chỉ để treo, tác phẩm không còn chỉ để ngắm, nhiều nghệ sĩ sử dụng không gian, đồ vật đời sống, hình ảnh, âm thanh, ánh sáng để truyền tải ý tưởng và thông điệp. Nếu như nghệ thuật truyền thống chú trọng vẻ đẹp, có khuôn mẫu rõ ràng, dễ hiểu, dễ cảm, người xem chủ yếu ngắm, thì nghệ thuật đương đại chú trọng đến ý tưởng, tự do không giới hạn, cần suy nghĩ và đối thoại, người xem cùng tham gia suy nghĩ.
Đào Anh Khánh là một trong những nghệ sĩ tiên phong của nghệ thuật sắp đặt và trình diễn tại Việt Nam từ đầu những năm 2000, tiếp đến Trần Lương, Đinh Ý Nhi, Đặng Xuân Hòa, Lê Quảng Hà là những cái tên nổi bật.
Tiếp đến là thế hệ hội nhập mạnh mẽ với quốc tế, tham gia nhiều triển lãm ngoài nước, mở rộng hình thức sáng tác, những cái tên được nhắc đến như Dinh Q. Lê, Nguyễn Trinh Thi, Trương Tân, Ưu Đàm, Phan Thảo Nguyên, Nguyễn Quốc Thành, Lê Giang…
Tuy nhiên, so với thế hệ đàn anh đi trước như Đào Anh Khánh, Đặng Xuân Hòa, Lê Quảng Hà… thì ở lớp nghệ sĩ trẻ ngày nay vẫn là những cái tên chưa thực sự nổi bật. Tại sao lại có nghịch lý này, khi đất nước đang hội nhập mạnh mẽ, đời sống kinh tế ngày một đi lên và phát triển không ngừng, khoa học kỹ thuật ngày một phát triển cũng được áp dụng hỗ trợ cho những ý tưởng nghệ thuật? Những sự kết nối, giao lưu, học hỏi, tham khảo từ nhiều nguồn trên thế giới qua những phương tiện truyền thông đa phương tiện bùng nổ trong thế giới hội nhập. Những ý tưởng liên tục ra đời khi mà thế giới nghệ thuật đang biến chuyển không ngừng cho phù hợp với thời đại mới.
Thế hệ nghệ sĩ mỹ thuật đương đại sinh vào cuối thập niên 1980 và đầu 1990 được xem là lớp nghệ sĩ “trưởng thành trong hội nhập”. Họ, những người trẻ cho thấy một hướng tiếp cận nghiêm túc với nghệ thuật sắp đặt, gắn sáng tác với lịch sử, ký ức và đời sống xã hội đương đại. Tuy nhiên, trái với kỳ vọng, thế hệ này lại không tạo được một lực lượng đông đảo và liên tục như các thế hệ đi trước.
So với thế hệ tiên phong như Đào Anh Khánh, Trần Lương phải làm nghề trong điều kiện thiếu thốn nhưng có tinh thần khai phá mạnh mẽ thì thế hệ cuối 8X, đầu 9X dường như đang bị “chặn lại” bởi chính môi trường nghệ thuật hiện nay. Không phải vì thiếu ý tưởng hay năng lực sáng tạo, mà vì thiếu một hệ thống nâng đỡ thực chất. Nghệ thuật sắp đặt gần như không có chỗ đứng ổn định trong bảo tàng, gallery thương mại không mặn mà với những hình thức khó bán, khó lưu trữ…
2.Nếu như nghệ thuật đương đại của các loại hình như múa, âm nhạc, xiếc…đang làm mưa làm gió, và quảng bá mạnh trên mạng, được đông đảo công chúng quan tâm thì mỹ thuật đương đại vẫn đứng ngoài đời sống của số đông công chúng. Phần lớn người dân ít khi tiếp cận triển lãm mỹ thuật đương đại, hoặc nếu có, thường rơi vào tâm thế bối rối, khó hiểu, thậm chí e ngại. Nhiều người cho rằng mỹ thuật đương đại “xa lạ”, “không đẹp”, “không giống tranh”, và từ đó hình thành khoảng cách tâm lý với loại hình nghệ thuật này.
Trong những năm gần đây, nhiều bảo tàng lớn, quy mô hoành tráng, mang tính biểu tượng về mặt kiến trúc được xây dựng. Tuy nhiên, không ít bảo tàng mỹ thuật hiện nay vẫn chủ yếu trưng bày các tác phẩm truyền thống hoặc mang tính lịch sử, trong khi mỹ thuật đương đại xuất hiện khá mờ nhạt. Số lượng tác phẩm đương đại được sưu tập còn hạn chế, triển lãm chuyên đề chưa nhiều, và cách trưng bày thiếu sự đổi mới. Điều này dẫn đến một nghịch lý bảo tàng thì lớn, nhưng sức sống nghệ thuật bên trong lại yếu. Khi bảo tàng không trở thành nơi phản ánh hơi thở của đời sống mỹ thuật đương đại, công chúng khó có cơ hội tiếp cận, còn nghệ sĩ thì thiếu không gian để đối thoại với xã hội
Tiến sĩ Nguyễn Anh Minh - Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam cho biết, bảo tàng có quan tâm tới nghệ thuật đương đại nhưng ngân sách rất eo hẹp, không đủ để mua được nhiều tác phẩm xuất sắc. Bảo tàng chưa trang bị đủ điều kiện để lưu trữ và xử lý các tác phẩm đương đại, đặc biệt các dạng tác phẩm lắp đặt, video art cần không gian và công nghệ hiện đại. Một phần nữa khiến tâm lý e dè khi mỹ thuật nghệ thuật đương đại vấn đề đạo nhái, sao chép ý tưởng từ nghệ thuật nước ngoài trở thành một điểm nóng gây tranh cãi.
Đã có một số tác phẩm bị phát hiện có sự trùng lặp đáng kể về ý tưởng, hình thức hoặc cách trình bày so với các tác phẩm quốc tế. Điều này làm dấy lên nghi ngờ về tính sáng tạo và bản sắc của mỹ thuật đương đại trong nước. Việc chịu ảnh hưởng từ nghệ thuật thế giới là điều tất nhiên trong thời đại hội nhập. Tuy nhiên, khi tác phẩm chỉ dừng lại ở việc “làm giống”, thiếu sự chuyển hóa từ bối cảnh văn hóa, lịch sử và trải nghiệm cá nhân của người nghệ sĩ Việt Nam, thì giá trị nghệ thuật khó có thể được khẳng định.
Họa sĩ Lương Xuân Đoàn - Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam cho rằng: “Một nguyên nhân khiến vấn đề đạo nhái trở nên phức tạp là thiếu hệ thống thẩm định chuyên môn và khung pháp lý rõ ràng về bản quyền trong mỹ thuật. Không giống như các lĩnh vực khác, mỹ thuật đương đại thường khó xác định ranh giới giữa ý tưởng chung và sao chép cụ thể. Khi không có hội đồng chuyên môn đủ mạnh và cơ chế xử lý minh bạch, các tranh cãi dễ rơi vào tình trạng ồn ào nhưng không đi đến kết luận rõ ràng.
Hệ quả là niềm tin của công chúng vào mỹ thuật đương đại bị ảnh hưởng, còn nghệ sĩ nghiêm túc lại chịu thiệt thòi vì bị đặt chung trong một bức tranh nhiều nghi ngờ. Vậy nên, để cẩn trọng hơn, quỹ dành cho mua tác phẩm mới rất ít, trong khi tác phẩm đương đại thường có giá đắt hơn, khiến bảo tàng khó mua được nhiều”. Ông cũng thừa nhận số lượng tác phẩm đương đại trong các bộ sưu tập hiện rất nhỏ và không gian triển lãm thường bị ưu tiên cho các tác phẩm đã tồn tại lâu.
The Outpost (Hà Nội) một tổ chức nghệ thuật đương đại tư nhân lớn đã phải tạm dừng đóng cửa sau 25 năm hoạt động với nhiều chương trình triển lãm thu hút, nguyên nhân là do kinh phí không đủ để duy trì hoạt động. Trong bức tranh chung ấy, nghệ sĩ trẻ là lực lượng đối mặt với nhiều khó khăn nhất. Mỹ thuật đương đại đòi hỏi thời gian nghiên cứu, thử nghiệm và đầu tư cá nhân lớn, nhưng lại không dễ mang lại thu nhập ổn định.
Phần lớn nghệ sĩ trẻ không thể sống bằng sáng tác thuần túy, phải làm thêm các công việc khác để duy trì cuộc sống. Thiếu vắng các quỹ hỗ trợ trong nước, thiếu cơ hội triển lãm chuyên nghiệp, thiếu thị trường nghệ thuật lành mạnh khiến con đường của nghệ sĩ trẻ trở nên chông chênh. Trong hoàn cảnh đó, việc tìm đến thương mại hóa nghệ thuật trở thành một lựa chọn gần như bắt buộc. Hệ quả là nhiều nghệ sĩ trẻ buộc phải rời bỏ sắp đặt, chuyển sang hội họa thương mại, thiết kế hoặc các công việc ngoài nghệ thuật để mưu sinh.
Thực trạng này cho thấy mỹ thuật đương đại Việt Nam vẫn đang loay hoay tìm chỗ đứng vững chắc trong đời sống văn hóa đương đại. Nghệ thuật đương đại không cần phải trở nên dễ dãi, cũng không nên bị đẩy vào thế cô độc. Chỉ khi bảo tàng thực sự sống, thị trường vận hành lành mạnh và chính sách hướng về con người sáng tạo, mỹ thuật đương đại Việt Nam mới có sức sống ăn sâu, bám rễ trong lòng công chúng.

Khám phá Mỹ thuật đương đại trong Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam
Giao lưu mỹ thuật đương đại Việt Nam-Hàn Quốc