Cành đào huyền sử
"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).
Cành đào đẹp nhất là cành đào của Vua Quang Trung dành cho vợ là Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân. Người ta kể, khi mùng 5 Tết trận thắng to, nhà vua đã chọn một cành đào Thăng Long sai người mang về tặng vợ.
Kỵ sĩ ra roi cho ngựa phi nước đại, không kể ngày đêm qua bao sông sâu, núi cao. Đến tối ngày mồng 7 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789), cành đào báo tin toàn thắng đến tay Ngọc Hân tại thành Phú Xuân. Cành hoa đào chỉ hai ngày đã đến nơi, cũng thần tốc không kém gì cuộc hành quân Bắc tiến.
Nhưng có gì đó chưa thật thuận lý. Nếu người ngựa vừa đi vừa nghỉ thì không thể quá nhanh, bởi ngựa đường trường không thể phi nước đại mà phải đi nước kiệu hoặc hành mã thư thả. Phú Xuân cách Thăng Long ước chừng 670 km. Đi khẩn trương, mỗi ngày khoảng 100 km thì cũng mất một tuần. Sự vận động của tự nhiên đã làm cho các đơn vị hành chính vô hình trung xếp đặt trật tự giống như các trạm dừng nghỉ trên cao tốc ngày nay thì ngày xưa cũng có những dịch trạm để cho ngựa và người được nghỉ ngơi.
Các dịch trạm ở xứ ta thường cách nhau khoảng 20 km. Thăng Long xưa có khu dịch trạm để di chuyển thư từ công văn cho các cơ quan và triều đình. Ở đây, ngựa có thể nghỉ và chỉnh đốn yên cương. Những người thợ làm yên cương từ Ninh Hiệp về đây sinh sống và phục vụ. Nghề hàng da và đóng giày cũng trở nên nức tiếng. Phố Ngõ Trạm nhắc lại dấu ấn lịch sử đó. Từ Thăng Long đến Phú Xuân có khoảng 36 trạm dịch.
Ở xứ Trung Hoa hay châu Âu có nhiều thảo nguyên mềm như lụa thì ngựa có thể đi xa hơn, mỗi dịch trạm có thể 20 - 30 km. Vài dịch trạm nhỏ lại có dịch trạm lớn. Ở đó bưu điện, ga tàu, chợ, có nhà hàng, quán trọ tá túc,... rồi quán rượu. Cứ hết một ngày, ngựa đi được chừng 60km là tới một dịch trạm lớn. Từ chu kỳ nghỉ của ngựa giữa các trạm đã tạo nên đô thị. Dịch trạm nhỏ thành thị trấn, dịch trạm lớn mọc lên thành phố. Không phải tự nhiên mà các thành phố châu Âu thường cách nhau khoảng 60 km. Như vậy, từ vó ngựa đã mọc lên những đô thị sầm uất, những lâu đài, thành bang, đế chế.
Trở lại với kỵ sĩ và cành đào, nếu theo phương thức chạy tiếp sức 24/24, cứ đến trạm mới, lại bàn giao cho người lính mới và ngựa khỏe, tiếp tục hành trình thì có thể đi trong 2 ngày. Nhưng chất lượng đường đồng bằng kém, lại phải vượt qua vùng núi Tam Điệp, Hoành Sơn nên tiến chắc chỉ có thể đi bộ.
Xứ ta sông ngăn núi cắt phức tạp. Kỵ sĩ phải đi đò quá giang 7 con sông lớn. Đó là sông Sinh Quyết (Đáy), Lỗi Giang (Mã), Ngàn Cả (Lam), Gianh, Minh Lương (Bến Hải, sau này tránh húy tên Vua Minh Mạng đổi thành Hiền Lương), Thạch Hàn (Thạch Hãn), Hương Trà (Hương). Như vậy phải đi 7 chuyến đò. Cứ kẽo kẹt chèo đò thì mỗi con sông cũng tốn đến hơn một giờ. Nếu không mưa gió, lặng sóng, đò đợi sẵn đi ngay thì cũng hết tổng thời gian chừng 8 tiếng vượt sông…
Khảo cứu các văn tự lịch sử thì chưa tìm thấy ghi câu chuyện cành đào thi vị này. Theo tác giả Tôn Thất Thọ thì câu chuyện lãng mạn này được kịch tác gia Trúc Đường sáng tác cho một tác phẩm sân khấu. Chuyện cành đào nằm trong vở diễn "Quang Trung" ông viết đầu năm 1964. Văn học và lịch sử có một khoảng giao nhau mà nếu suy nghĩ đơn giản thì người ta tin ngay là sử liệu.
Câu chuyện này được mặc nhiên thừa nhận, đưa vào lễ hội Đống Đa. Lâu dần nhiều người coi là sử liệu để khai thác làm sân khấu, làm thơ. Huyền sử bao giờ cũng đẹp vì là giao thoa giữa sự thật và hư cấu.
Dù thích câu chuyện đến đâu, vẫn nên khoanh lại ranh giới giữa văn học và sử liệu thật dứt khoát. Thưởng thức trên phương diện văn học là đủ tuyệt vời rồi.
Huyền sử này ra đời trong thế kỷ XX nhưng là một câu chuyện lãng mạn, làm ta thấy cành đào ngày xuân thêm phần thi vị.

Hoa đào về trên núi