Khi tình yêu dẫn lối
Tình yêu luôn là điều khó lý giải, nó vượt qua mọi định kiến, địa vị xã hội và cả tuổi tác để làm nên những kỳ tích mà có lẽ chỉ người trong cuộc mới hiểu được. Và nếu ai đó nói rằng ở cái thời đại công nghệ số, mọi thứ đều được quy đổi thành tiền này những gì thuộc về tình cảm khó vẹn toàn, thì tôi không tin, bởi vì ngay giữa lòng Hà Nội vẫn còn đó, một minh chứng vĩnh cửu cho tình yêu đẹp với một túp lều tranh hai trái tim vàng.
Tôi đã gọi mối tình của bà Đỗ Thị Huyền (có người gọi là Hiền, 63 tuổi) và ông Tống Văn Dinh (79 tuổi) là bản tình ca đẹp giữa cuộc sống xô bồ của Hà thành bởi vì đã gần chục năm trôi qua, họ đã sống bên cạnh nhau, yêu thương nhau, chia sẻ với nhau về cuộc sống mà chẳng có gì để làm điểm tựa ngoài hai trái tim khát khao yêu thương.
Chênh vênh với mặt nước hồ
Nhìn mớ đồ dùng gồm chiếu, chăn, áo ấm, gối, màn… cuộn tròn cạnh gốc cây này, nhiều người tỏ vẻ nghi ngại, cũng có người thương, có người giận và có cả những người khinh bỉ, mỉa mai nhưng bà… mặc kệ.
Cho đến bây giờ, bà Huyền cũng không nhớ giữa chênh vênh cuộc đời với mặt nước hồ này là nơi thứ bao nhiêu họ phải di chuyển, chỉ biết rằng cứ nơi nào đang xây dựng thì bà đến, làm xong thì bà đi. Bờ hồ Hoàng Cầu là nơi bà đã sống chừng 5 năm rồi. Bà bảo ở đây lâu vì không gian đặc biệt, rằng sau mỗi ngày tất tả ngược xuôi "kiếm sống", hai vợ chồng lại ngồi bên nhau ngắm trời, đất, người và xe đi lại nhộn nhịp, hay sóng nước hồ gợn lên êm ả, những đôi tình nhân tản bộ, những quán hàng di động mọc lên tua tủa chỉ để bán mấy cốc trà đá, vài con mực nướng… Thi thoảng ông bà cũng dắt nhau đi dạo như những đôi tình nhân ấy, cũng thấy mình ăm ắp trái tim yêu.
![]() |
| Hai vợ chồng bà Đỗ Thị Huyền và ông Tống Văn Dinh. |
4 năm có dài không? - Tôi hỏi bà. Bà cười lắc đầu bảo không, có lẽ bởi vì khi tình yêu viên mãn thì người ta chẳng quan tâm nhiều đến thời gian.
Mỗi ngày, ông xách cái bơm ngồi phía bên kia đường, chờ những chiếc xe hết hơi vô tình dừng lại đúng chỗ, cái thời buổi này, nghề đó hình như không hợp nữa nên đồng tiền cũng khó kiếm hơn. Còn bà, mỗi sáng mua mấy cân hoa quả, ngồi bên hồ, chờ khách qua lại bán kiếm mấy đồng, cũng không được mấy nhưng vì toàn bộ số tiền họ kiếm được cũng không phải lo cho việc gì nên cũng không đến nỗi vất vả lắm.
Vừa nói bà vừa chỉ về phía trước, nơi một người đàn ông tầm ngoài 60 tuổi đang đi về phía chúng tôi.
"Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ"
Đó là một buổi chiều muộn, bà đi nhặt đồng nát ở Trung Liệt về, chiều buông nhanh, vài bóng đèn đã được thắp sáng chếch hướng, "chúng tôi đi ngược chiều nhau, cũng bình thường như những người qua đường khác. Nhưng đi một đoạn, rồi bất ngờ cả hai cùng quay lại nhìn nhau. Lúc đó tôi đã nghĩ rằng người đàn ông vừa đi qua mình có thể sẽ là người sẽ sống với mình suốt quãng đời cô đơn còn lại"- Khi bà quay lại thì thật bất ngờ ông cũng quay nhìn bà, ông mỉm cười rồi bước về phía bà và đưa cho bà một thanh sắt dài chừng hai mét- đó có lẽ là món quà tình yêu duy nhất ông tặng bà suốt từ ngày yêu nhau cho đến bây giờ.
Thi thoảng trên đường đi nhặt rác về, bà đứng ở đó chờ ông, có hôm bà đến đã thấy ông đứng chờ ở đó rồi, bà chẳng biết gì về ông ngoài cái tên Tống Văn Dinh đơn sơ và giản dị. Họ cứ qua lại mãi như thế đến mấy tháng rồi ông cũng chia sẻ chuyện gia đình mình. Vợ ông đã mất cách đó mấy năm, ông có bốn người con, các con đã có gia đình riêng, giờ chỉ còn ông cô đơn trong ngôi nhà mình. Rồi ông dẫn bà về nhà chơi, một căn nhà nhỏ nhưng rất ấm cúng.
Khi ông Dinh công khai đi lại với bà Hiền (có lẽ Hiền dễ gọi hơn Huyền nên người ta toàn gọi bà là Hiền), các con ông phản đối kịch liệt và nhất quyết không chịu cho ông về nhà, vậy là ông ra ở với "người yêu", không có nhà thì nằm cạnh hồ, mùa hè nắng nóng có gió hồ thổi lên mát rượi, mùa đông kiếm mấy cái chăn cũ, cái màn cũ, mặc đại một góc đường, và ngủ ngon lành bên nhau, vẫn hạnh phúc ngọt ngào, vẫn nồng nàn như thuở xa xưa, yêu nhau chẳng cần nhà cao cửa rộng, chẳng cần lầu son gác tía, chẳng cần vàng bạc gấm vóc gì cả, họ- thậm chí lúc ấy còn chẳng có cả một túp lều tranh để nhân niềm hạnh phúc bởi chỉ duy nhất có hai trái tim vàng. Từ đấy hai cái tên Dinh - Hiền cứ gắn liền với nhau. Trước đây ở Thành Công, sau bên ấy giải tỏa, ông bà kéo nhau ra ở hồ Hoàng Cầu. Từ đó đến nay họ gắn bó với nơi này. Bà bảo: "Cứ vạ vật hết nơi này nơi khác nhưng ở chỗ nào cũng được hàng xóm thương nên không bị hắt hủi gì cả".
Quá khứ buồn
Bà Hiền tên thật là Đỗ Thị Huyền quê Thái Bình. 15 tuổi lấy chồng, người chồng đầu tiên của bà là Nguyễn Văn Vân. Hồi mới lấy chồng, cũng như bao cô gái khác, đang tuổi ăn tuổi lớn nên chẳng biết gì, chỉ biết làm lụng vất vả để lo cho cuộc sống gia đình. Lúc bấy giờ hai vợ chồng cùng làm chiếu xuất khẩu ở Hợp tác xã Hữu Nghị, thị xã Thái Bình. Mấy năm sau, hai vợ chồng lên Hà Nội, bà xin làm cấp dưỡng ở Trường Lý luận Nghiệp vụ Bộ Văn hóa (nay là Trường Đại học Văn Hóa), còn chồng làm bảo vệ. Lúc bấy giờ cuộc sống của tất cả mọi người đều vất vả như nhau, gia đình bà cũng không ngoại lệ. Sau đó, vì vất vả rồi thêm những xích mích không tên gọi khác, rồi căn nhà tập thể được phân bị người ta chiếm mất chỉ vì cho thuê. Bà giận quá, cãi nhau với chồng, đầu tiên còn nhỏ, sau đó to tiếng dần và dẫn đến ly hôn. Hai người con về ở với bà ngoại. Bà bị khủng hoảng tinh thần một thời gian rồi đâm chán nản, xin nghỉ việc và đi lang thang. Sau đó, bà xin làm giúp việc cho một số gia đình, cứ vậy cuộc sống trôi đi.
Ông Dinh đã từng có một đời vợ, bốn người con nay đã thành đạt, cửa nhà đàng hoàng nhưng rồi vì yêu bà, ông đã bỏ tất cả cơ ngơi ấy để ra "đường" ở với bà. Ông bảo: "Tuổi già, tôi cần có người chăm sóc, các con ai cũng có gia đình riêng. Vợ tôi mất lâu rồi, tôi muốn có một người chia sẻ về cuộc sống khó khăn nhưng chẳng hiểu sao các con lại phản đối. Bây giờ, vẫn còn khỏe mạnh nên còn đi lại kiếm được bát cơm bát canh, còn có thể ngủ linh tinh được chứ nay mai già cả cũng chưa biết thế nào".
Cuộc sống hiện tại
Ban ngày, ông Dinh xách bơm ra ngồi ngoài đường, chỉ mong mỗi ngày kiếm đôi đồng để dành. Bà Huyền mua hoa quả bán, mỗi ngày kiếm được khoảng mươi lăm nghìn, cũng đủ cho cuộc sống hiện tại. Trưa về, ăn đại bát mì tôm, ngủ một lúc rồi chiều lại tiếp tục công việc của buổi sáng. Tối đến, khi ánh đèn đường bắt đầu chăng lên cũng là lúc các quán nước bắt đầu hoạt động.
Tối, ông bà lại hì hục nấu cơm, gốc cây cạnh mấy cái ống cống kia là nơi bà quây gỗ che chắn làm bếp. Lúc tắm rửa thì quây nilon xung quanh, mặc kệ thiên hạ muốn làm gì thì làm. Trước đây khi hồ chưa nạo vét thì giặt quần áo tại hồ, nay thì vào nhà dân, xin vài xô nước vừa nấu ăn, vừa giặt giũ. Mà mùa đông, cũng không dùng nhiều lắm. Khi đêm xuống, những quán bán nước lục đục dọn về cũng là lúc vợ chồng chăng màn lên ngủ.
Trước đây, những lúc mưa to gió lớn, vợ chồng kéo nhau chui vào ống cống nhưng dạo này, bà che được cái lán nhỏ, thế là vợ chồng có nơi trú ngụ. Và mỗi ngày thức dậy, lại thấy vui vì bên cạnh họ luôn có nhau. Cứ vậy, cuộc sống bình lặng trôi cho đến khi nào mình không còn cố được nữa thì tìm kế khác. Ông Dinh bảo: "Người ta nói ở đây cũng sắp xây dựng xong, chúng tôi chưa biết nay mai mình sẽ về đâu nhưng chỉ cần có bà ấy bên cạnh, mọi cái vất vả không còn nữa". Còn bà thì bảo: "Chúng tôi là những người cô đơn gặp nhau, cái chúng tôi cần là tình cảm chứ không phải là tiền nên tôi chả bao giờ nghĩ đến chuyện sẽ về nhà ông ở. Tôi thương ông như thương chính mình, đôi khi nghĩ thấy tủi thân cho ông, có con cái, có nhà cửa mà cứ phải long đong theo tôi mãi". Tôi quay sang hỏi ông: "Ông có ân hận khi đến với bà không?". Ông lắc đầu: "Nếu ân hận đã không làm, đã làm là không ân hận". Và bà đã mỉm cười hạnh phúc khi nghe ông nói vậy.
Vâng! Bất kể ai trong đời cũng thế, con người có thể khiếm khuyết, có thể không trọn vẹn nhưng trái tim luôn có lý lẽ riêng. Xin được kết thúc bài viết bằng câu nói ngọt ngào nhưng đượm buồn của một người bạn tôi khi chứng kiến tình yêu của họ rằng: "Không sợ khó khăn, không sợ vất vả, không sợ khổ đau… chỉ sợ trên đời giữa con người với con người không có tình yêu mà thôi"

