Mùa Thu kỉ niệm

09:45 13/10/2021

LTS: Năm 2021 tròn 100 năm ngày sinh thi sĩ Quang Dũng, tác giả bài thơ "Tây Tiến". Chị Bùi Phương Thảo, con gái nhà thơ Quang Dũng gửi tới ANTG GT - CT những chia sẻ đặc biệt, với nhiều chi tiết mới được phát hiện về người cha quá cố của mình.

Những dấu ấn mùa thu

Mùa thu gợi trong tôi kí ức thật buồn, đêm 13 tháng 10 năm 1988, cha tôi đã trút hơi thở cuối cùng.

Vào thời khắc tuyệt vọng níu kéo sự sống trở về, tôi thì thầm: "Bố hãy cố gắng hít thở, bố là người rất kiên cường chịu đựng!". Trong khoảnh khắc chợt tỉnh, cha tôi mở mắt, ông nghiêng đầu nhìn một lượt mọi người, bàn tay phải hơi giơ lên và dừng lại ở nhà thơ Trần Lê Văn, khẽ cất lên hai tiếng: Ông Văn! Cha tôi đã ra đi sau bốn năm bị tai biến và những biến chứng từ việc nằm tại chỗ quá lâu.

Đêm mưa thu vĩnh biệt cha ám ảnh tôi mãi mãi 

Cha tôi sinh năm Tân Dậu 1921, nhưng ông ghi trong lí lịch, chứng minh thư và khai sinh của các con khác nhau. Nhà thơ Trần Lê Văn đã nói về điều này: "Quang Dũng sinh năm Dậu (Tân Dậu 1921), trên giấy tờ hành chính, anh thường khai tăng tuổi. Tăng một cách tùy hứng, khi thì sinh năm 1919, khi thì sinh năm 1918. Không phải anh có dụng ý "khai man" mà chỉ vì tính anh thích thế…". Cha tôi đã ghi lại một chi tiết về ngày sinh của mình, là căn cứ để gia đình tìm ra ngày, tháng sinh của ông: ngày 11 tháng 10 năm 1921.Vậy là thời gian cha tôi chào đời và mất cùng vào tháng 10,chỉ chênh nhau vài ngày.

Mùa Thu kỉ niệm -0
Nhà thơ Quang Dũng.

Ngày, tháng sinh của cha tôi, một chi tiết không mấy được quan tâm trước đây.

"Người đừng mong mỏi một kho tàng

Đừng ước lầu cao giấc mộng sang

Tôi về chỉ một hồn đơn chiếc

Ngọc vàng là những nét phong sương"

Đó là những câu thơ mà chàng thanh niên Quang Dũng gửi cho cô gái Bùi Thị Thạch (cha, mẹ tôi sau này) trước khi tạm chia tay nhau vào đầu những năm 1940 ở Yên Bái. Cô Thạch có dáng người cao dong dỏng, da trắng hồng và mái tóc đen dài, thích văn chương và đặc biệt có tâm hồn đồng điệu với Quang Dũng. Chẳng biết xa cách bao lâu nhưng cô Thạch chẳng ngần ngại đáp: "Tôi không mong mỏi một kho tàng/ Không ước lầu cao giấc mộng sang/ Người về xin một hồn đơn chiếc/ Ngọc vàng là những phút bên nhau". Hai người đã nên duyên chồng, vợ sau rất nhiều cách trở, những phút bên nhau trong cuộc sống được ví như ngọc, như vàng, lúc chia xa họ vẫn hẹn nhau ở một cõi khác: "Bến nào cát bụi ai thương nhớ/ Mỉm cười thầm hẹn: cõi hư không!" (“Trách ai” - Bùi Thị Thạch).

 Cha tôi là người trọng tình nghĩa, có những kỉ niệm trong cuộc đời gây thương nhớ, xót xa. Ông viết: "Mùa hoa phượng đỏ là mùa mà hai người gặp nhau nên chọn một ngày làm kỉ niệm và một ngày về mùa thu làm kỉ niệm về ở hẳn với nhau", không biết cha mẹ tôi có cùng chọn được một ngày nào không nhưng với tôi, tất cả những ngày trong mùa thu đều thật thiêng liêng.

Mây, trời, nắng, gió mùa thu cứ quẩn quanh bên cuộc đời ông như một định mệnh được sắp đặt.

Người rong ruổi trên những dặm đường

Cuối xuân năm 1947, cha tôi gia nhập đoàn quân Tây Tiến. Lúc đó, mẹ tôi mới sinh anh cả chưa được đầy tháng và phải bốn năm sau, hai cha con mới gặp mặt nhau, mợ tôi không trách việc hay đi của chồng vì bà đã biết đến sự xa cách từ thời tuổi trẻ của ông: "Mấy gã thanh xuân lòng bốn cõi/ Nhẹ nhàng thân gửi kiếp ra đi"- (“Giang hồ” - Quang Dũng 1942 ).

07df2fcc9ae153bf0af0-1633949268782.jpg
Binh đoàn Tây Tiến từng lặn lội ở chiến trường Tây Bắc. Ảnh: S.t

Chuyến đi thực tế Bắc Hà năm 1973, gợi nhớ chuyến đi Vân Nam năm 1943 của ông, cha tôi viết: "Tôi ngủ đêm cùng chăn và cùng đệm với giáo Giản (VHK). Lúc ấy Vũ Hồng Khanh độ 40 tuổi còn tôi độ 23. Một thanh niên mới đi hải ngoại để tìm hiểu cứu nước. Đi phiêu lưu cho thỏa chí giang hồ bốn phương". Cha tôi đã qua thời tuổi trẻ đầy những trải nghiệm đáng nhớ.

Năm 1983, cha tôi vào khu kinh tế mới Hà Nội ở Lâm Đồng. Ông tìm hiểu, ghi chép tỉ mỉ cho bút kí "Đất rồng lửa", dự định của cha tôi đã không thành, bị thấp khớp mãn tính nhưng ông vẫn đi bộ, leo những con dốc trơn trượt để lấy tư liệu, "Cái ngã sấp hôm ấy ở dốc Máy Kéo là một bài học. Phải ngồi thụp xuống chống đập mặt xuống đất" - ông ghi lại. Những cú ngã nhiều dần và cơn tai biến tái phát khiến ông phải trở ra Hà Nội. Cũng tại đây, cha tôi đã kịp viết những bài thơ cuối cùng, Tây Nguyên thành điểm dừng chân trong cuộc đời rong ruổi của ông.

Bút kí, những trang viết tâm huyết

Cha tôi viết khá nhiều văn xuôi, vài chục bút kí ra đời sau những tâm huyết mà ông dành cho thể loại này.

Ông viết: "Xin nói về kỉ niệm đầu tiên của tôi lúc làm tờ báo Quân miền Tây số tết xuân 1947, lúc ấy, trung đoàn tôi đóng ở Vang Vó. Tôi viết bài bút kí nói về cảnh ban chính trị của trung đoàn chuẩn bị ra số báo tết. Tôi còn nhớ, có những anh viết được bài báo nộp cho thư kí tòa soạn xong thì kéo chăn đắp liền vì bị cơn sốt rét hành từ lúc đang leo dốc. Bài bút kí của số báo Quân miền Tây ấy lại được giải thưởng bích báo của liên khu. Tiếp đó là những bài hành quân của quân miền Tây đi lên biên giới… Những bài bút kí đầu tiên ấy đã hướng hẳn ngòi bút tôi vào thể loại kí mà tôi gắn bó mãi mãi.

Cuốn "Đường lên Châu Thuận", bút kí được giải thưởng Văn học năm 1954 cũng là một khuyến khích to lớn đối với tôi trong việc đi hẳn vào thể loại này… Thể loại kí này tôi ưa vì nó rộng rãi, chấp nhận cho ngòi bút tác giả đà đậm, khi thì đi sâu tìm hiểu mọi chi tiết của vấn đề, khi thì lại dừng lại và phát triển những khía cạnh mà chính vấn đề đã có lúc gợi cảm viết được những trang khá hào hứng và bay bổng nhờ sự chắp cánh kia, lúc thì người viết lại có thể dừng lại mà đi vào dĩ vãng của vấn đề như muốn trình bày lịch sử của vấn đề… Chúng tôi hay nói: “Chúng ta đi làm một cái bút kí…”.

Công việc ấy là một niềm thích thú của người đi làm bút kí. Đi để tìm hiểu và để cho cái mới thấm tâm hồn mình. Sở dĩ tôi ưa viết bút kí là cũng do tôi chỉ mơ ước là sẽ làm người tiên phong ghi chép cho tường tận công việc mới của thời đại chúng ta: ghi, sống, cảm động, chọn lọc, sau này biết đâu những bút kí ấy lại có ích.

Có nhiều sự suy nghĩ khác nhau về thể loại này nhưng tôi vẫn nghĩ rằng kí có một vị trí cần thiết trong văn học. Nó mang tính thời sự của công việc nhưng không mất cái tính vĩnh cửu của vấn đề nếu có cả chiều sâu ý nghĩa".

Tôi vẫn đọc những trang văn, đi vào chữ nghĩa của cha và thêm hiểu tình yêu cuộc sống, quê hương, đất nước mãnh liệt trong tâm hồn ông - nhà thơ xứ Đoài. 

Tháng 10-2021

Bùi Phương Thảo