Đắng lòng nỗi nhớ

Thứ Năm, 03/07/2008, 10:00

Một người lính từng có hơn 15 năm cầm súng nơi chiến trường sinh tử, giữ được mạng sống để khi chiến tranh kết thúc vẫn trở về được, cho dù trên mình chi chít vết thương, cho dù đồng đội quanh mình ngã xuống không thể kể xiết, thì đó là một may mắn lớn, một diễm phúc lớn. Đại tá Lê Hải Triều là một người lính như vậy, bước ra khỏi cuộc chiến, còn sống để trở về là một điều kỳ diệu.

Thế nhưng, cuộc sống của một người lính từng may mắn như anh khi trở về lại không thể nếm trải những quả ngọt của hạnh phúc. Ký ức chất chứa quá nhiều hình ảnh đau thương, bi tráng của cuộc chiến khốc liệt… Ký ức ấy đã bám riết lấy anh, truy đuổi anh ngay cả trong thời bình. Một ký ức bỏng rát như vậy, làm sao có thể thanh thản để hạnh phúc.

Hơn nữa, tránh được hòn tên mũi đạn nơi chiến trận nhưng Lê Hải Triều không tránh nổi bi kịch nghiệt ngã của cuộc đời mình. Số phận cho anh cũng nhiều nhưng lấy đi của anh những thứ quá lớn.

Trận đánh không thể nào quên

Lê Hải Triều sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo ở Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Tây. Tuổi thơ của anh trôi qua trong tiếng chuông chùa, tiếng gõ mõ tụng kinh và những lời răn dạy của Phật pháp. Hải Triều là cậu bé thông minh, sáng dạ, nên bà ngoại thường dắt cháu leo núi lên chùa Bảo Đài cùng với bà để đọc kinh cho các phật tử ở chùa không biết chữ cùng thuộc kinh để lễ chùa.

Lên lớp 5, Triều đã trọ học xa nhà. Lên cấp 3, cậu đi bộ 17 km từ nhà lên Vân Đình trọ học. Cả 3 huyện mới có một trường cấp 3, cả xã Hương Sơn hồi ấy có độc 3 học trò theo học cấp 3, trong đó có Hải Triều.

Tốt nghiệp cấp 3, ngày 2/10/1966, Hải Triều nhập ngũ ở Tiểu đoàn Trinh sát Đặc công huấn luyện ở Ngọc Lặc, Thanh Hóa. Tháng 4/1967, vai mang súng, lưng đeo ba lô cùng gạo muối đạn dược bắt đầu cuộc hành quân ròng rã 4 tháng đi bộ vào đến chiến trường Tây Nguyên. Đến Tây Nguyên, tiểu đội của Hải Triều được cắt bổ sung về Trung đoàn 66 bắt đầu cho chiến dịch Đắc-Tô 1 và chiến dịch Tết Mậu Thân 1968. Từ đó bắt đầu cho những trận đánh dữ dội trong cuộc đời cầm súng hơn chục năm của Hải Triều.

Đáng nhớ nhất là trận đánh Tết Mậu Thân 1968, Hải Triều được lệnh tăng cường cho Tiểu đoàn 8 đánh ở đồi Ngọc Tụ, phía Tây Tân Cảnh, Kon Tum. Hải Triều trực tiếp đi cùng với đồng chí Lê Sửu, Tiểu đoàn trưởng chỉ huy trận đánh. Khoảng 9h sáng, máy bay Mỹ giội bom bắn phá mà cả cánh rừng già nguyên sinh chỉ sau vài tiếng đồng hồ bị băm nát. Hơn chục con vượn chết gục, máu chảy lênh láng, những cây gỗ hàng trăm năm tuổi bị xẻ đứng, đổ ngổn ngang, xung quanh lửa cháy khét lẹt.

Khi Đại đội 5 chốt trên đỉnh đồi Ngọc Tụ thì quân Mỹ bắt đầu đánh chiếm chốt. Anh Lê Sửu đang đứng chỉ huy thì bị 1 mảnh đạn M79 găm vào đầu gối. Hải Triều băng bó cho anh Sửu và kéo anh xuống hầm vừa đào vội ngay dưới thân cây cổ thụ vừa đổ để tránh đạn. Lúc này Hải Triều một mặt bảo vệ anh Sửu, một mặt thay anh Sửu chỉ huy trận đánh. Súng AK đặt nấc 1, hễ thằng Mỹ nào trồi lên là bắn. Hải Triều bắn tỉa rất khá, phát nào trúng phát ấy.

Cuộc chiến giữ chốt vô cùng quyết liệt kéo dài từ 10h cho đến 17h, ta đánh lui địch hàng chục lần khiến cho bọn Mỹ không lên được. Đến 17h thì trận chiến mới tạm ngưng. Trận đó, riêng Hải Triều diệt được 17 thằng Mỹ.

Khi cáng thương anh Sửu về qua hầm Trung đoàn gặp Chính ủy Nguyễn Năm, anh Sửu báo cáo luôn: "Hôm nay không có đồng chí Triều thì tôi đã bỏ mạng ở trên chốt rồi. Đồng chí Triều đã diệt được 17 tên Mỹ, bảo vệ an toàn cho tôi và cùng anh em giữ chốt kiên cường. Tôi đề nghị Trung đoàn xét đề nghị tặng thưởng Huân chương Chiến công và kết nạp đồng chí Triều vào Đảng".

Ngay hôm sau, ngày 16/2/1968, Hải Triều được kết nạp Đảng và được tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Dũng sỹ diệt Mỹ cấp 1. Sau trận này, Hải Triều được Trung đoàn cử tham gia Đoàn dũng sỹ diệt Mỹ lên Mặt trận báo cáo thành tích. Chính lần đó, anh được gặp Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, và hai người đã có một tình bạn đặc biệt mặc dù cách nhau nhiều thế hệ.

Trở về đơn vị, Hải Triều được điều lên cơ quan làm Trợ lý chính sách, rồi Trưởng ban Chính sách. Sau đó anh lại được điều về làm Chính trị viên Đại đội 5, Tiểu đoàn 8, tham gia chiến dịch Tây Nguyên tháng 3/1975. Sau chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, Hải Triều được lên làm Trưởng ban Chính sách Sư đoàn 10. 

Những lần thoát chết

Cả đến lúc này, mỗi khi nhớ lại cái ngày khủng khiếp tháng 11/1973, Đại tá Lê Hải Triều không khỏi rùng mình bởi sự ám ảnh ghê gớm của lần thoát chết kỳ lạ. Hải Triều lúc này đang là Trưởng ban Chính sách của Trung đoàn 66.

Hôm đó có một cuộc giao ban tại Sở chỉ huy X gồm 4 anh em Đào Huy Chư - Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn, Vũ Trọng Côn - Trưởng ban Tuyên huấn, Nguyễn Ngọc Thảo - Trưởng ban Bảo vệ cùng Hải Triều đang họp thì chiếc máy bay T28 bổ nhào cắt 2 quả bom trúng hầm mọi người đang họp. Ngay lập tức cả ba người kia hy sinh tại chỗ, Hải Triều nhớ như in sau tiếng bom rung chuyển, anh Chư đổ gục vào người Hải Triều, cơ thể mềm nhũn, ấm nóng, mấy anh em bên cạnh đều gục chết, máu túa ra lênh láng.

Duy nhất trong cuộc họp ấy Hải Triều sống sót. Anh bị thương ở đùi và bị sức ép chảy máu tai phải. Cuộc họp ấy, sự hy sinh của đồng đội đã bám riết lấy tâm trí Hải Triều, nuôi trong lòng anh một mối căm hờn sâu sắc, ám ảnh anh cho đến tận mãi sau này.

Trong cuộc chiến tranh Biên giới Tây Nam năm 1978, lúc này Tiểu đoàn 8 đang chiến đấu ở chiến trường K gặp rất nhiều khó khăn, gian khổ và ác liệt. Trước tình hình đó trên điều động Hải Triều quay lại với nhiệm vụ là Chính trị viên Tiểu đoàn 8. Giai đoạn này có 2 trận đánh kinh khủng nhất.

Trận đánh ngày 11/8/1978 đánh địch ở bản Vuông, đơn vị thương vong rất nhiều, có những đại đội gần như xóa sổ, trong đó Đại đội 7 hy sinh, bị thương, chỉ còn lại 7 người. Hay như trận đánh ngày 12/12/1978 đánh ở S, Hải Triều đi trinh sát địch bao gồm 3 trinh sát đi trước, anh đi giữa, Đại đội trưởng Trịnh Tố Tâm đi sau cùng.

Đang đi thì địch bắn hai quả đạn cối rơi vào giữa đội hình. Ba trinh sát trẻ hy sinh ngay tại chỗ, Đại đội trưởng Trịnh Tố Tâm bị thương nặng sau đó hy sinh và Hải Triều, một lần nữa anh là người sống sót kỳ lạ duy nhất trong lần trúng đạn ấy. Anh bị thương nặng, sau đó được chuyển ngay về trạm phẫu thuật của Trung đoàn.--PageBreak--

Vượt qua nỗi đau

Trong đời Đại tá Lê Hải Triều từng chịu đựng những nỗi đau lớn cả về thể xác lẫn tinh thần khiến cho những ai từng biết anh, chứng kiến sự chịu đựng của anh không thể không nể phục. Nỗi đau về thể xác không còn gì ghê gớm hơn là anh đã nằm trên bàn mổ suốt 3 tiếng đồng hồ để bác sỹ Sơn và kíp mổ chọc dò đường đi của những mảnh đạn để gắp ra được 16 mảnh đạn chi chít trong cơ thể anh trong lần bị thương ngày 12/12/1978 ấy.

Lần đó, khi cáng thương Lê Hải Triều về trạm phẫu thuật, bác sỹ Sơn đã khám cho anh xong, ông nói trong nước mắt: "Triều ơi, nếu không mổ cho cậu ngay thì không cứu được mạng sống của cậu, nhưng thương binh quá nhiều, trong kho bây giờ không còn lấy một lọ thuốc gây tê, gây mê nào nữa". Hải Triều đã nghiến răng: "Anh cứ mổ cho tôi đi, tôi chịu đựng được".

Suốt 3 tiếng đồng hồ nằm trên bàn mổ, không biết bao nhiêu lần Hải Triều lịm đi, mê man bất tỉnh, rồi hồi sức, rồi lại mê man bất tỉnh. Sức chịu đựng, bản năng sống mãnh liệt đã giúp anh vượt qua mà không có thuốc gây tê. Sau đó anh được trực thăng chở về TP Hồ Chí Minh chữa trị tại Viện 175 trong suốt 2 tháng trời.

Sau khi hồi phục sức khỏe, Hải Triều tiếp tục trở lại đơn vị, lên chức Phó Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn. Anh cùng với Ban Chỉ huy Trung đoàn chỉ huy đơn vị truy quét địch trên dọc biên giới phía Tây chiến trường K.

Tháng 6/1979, anh được điều về Trung đoàn 24. Tháng 3/1980, anh được bổ nhiệm Chính ủy Trung đoàn. Đến tháng 8/1987, anh được điều về làm Trưởng phòng Tuyên huấn Quân đoàn 3. Năm 1992, anh về công tác tại Nhà Xuất bản Quân đội nhân dân.

Ngay cả khi đứng giữa ranh giới chấp chới của sự sống và cái chết, sức chịu đựng tưởng không thể chịu đựng nổi trong cơn đau thể xác, Hải Triều vẫn cắn răng vượt qua, vẫn mày mò bám víu vào dù chỉ một sự sống mong manh của bản năng để tồn tại, để vượt qua cái chết. Nhưng có nỗi đau đã làm anh quị ngã.

Năm 2006, cuốn sách bé nhỏ "Nguyên ơi" của Hải Triều ra đời đã khiến bao người đọc trong nước mắt. Anh viết về 50 ngày sống cuối cùng của đứa con trai duy nhất, tình yêu lớn hơn tất cả cuộc  đời anh. Cháu bị ung thư máu, từ khi phát hiện bệnh cho đến khi mất vỏn vẹn đúng 50 ngày. 50 ngày, khoảng thời gian chưa đủ để cho gia đình anh làm quen với một thực tế, một sự thật nghiệt ngã, nhưng định mệnh như một tia chớp ập đến và lấy đi tất cả mọi hy vọng của gia đình anh.

Mất con trai, đứa con bước sang tuổi 16, cao lớn, ngoan hiền, học giỏi và đẹp như một thiên thần của hạnh phúc. Con trai chính là hình bóng tuổi trẻ của anh, là hy vọng của vợ chồng anh, cũng là niềm hạnh phúc ấm áp của một gia đình có đủ con trai, con gái. Mất đi đứa con trai duy nhất, Hải Triều thực sự quị ngã. Nỗi đau này không phải chiến tranh gây ra, không phải do bom đạn, cho dù anh đã trải qua những phút giây sinh tử, khi mà sự sống vô cùng mong manh trong những khoảnh khắc may rủi. Hải Triều bất lực trước số phận, gục ngã trước nỗi đau và sự mất mát khôn cùng.

Bạn bè anh ở Nhà Xuất bản Quân đội nhân dân kể lại. Mọi người đã từng chứng kiến hai lần Hải Triều đến cơ quan làm việc nhưng anh chỉ còn lại là một cái bóng vô hồn, một tâm trạng gần như vô định.

Lần thứ nhất năm 2004, anh chứng kiến cái chết thê thảm của con gái Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp. Nỗi đau của ông đã khiến anh như lạc đi trong cõi sống. Nhưng đến lần này, khi đứa con trai duy nhất của Hải Triều bị bạo bệnh đột ngột ra đi, Hải Triều như một cánh rừng chết khô trơ trụi sau một cơn bão. Anh gượng dậy vì vợ và con gái, vì đồng đội đã hy sinh ở chiến trường thay anh, vì anh là một người lính. Tôi thấy anh khô xác trong nỗi đau.

Mọi chuyện giờ đã nguôi ngoai, chỉ còn nỗi đau là vĩnh viễn ở lại, in dấu trong đôi mắt, trên gương mặt trầm lắng của anh. Trước khi con trai bị bệnh, anh bị tai biến và hầu như anh luôn phải sống chung với thuốc thang, với bệnh tật nhưng Hải Triều vẫn làm việc quên mình.

Gần chục cuốn hồi ký của các tướng lĩnh trong quân đội được anh chấp bút khá thành công: "Ký ức Tây Nguyên" của Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, "Thời sôi động" của Đại tướng Chu Huy Mân, "Năm tháng cuộc đời" của Thượng tướng Trần Sâm, “Một thời Quảng Trị" của Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu v.v...

Hải Triều ít nói, ít thể hiện, anh đã lặng lẽ lại càng lặng lẽ hơn trong nỗi đau riêng. Tôi nhìn thấy Hải Triều giữa bộn bề sách bút trong phòng làm việc mà vẫn thấy một nỗi cô đơn, một nỗi đau bao trùm lên anh một cách rõ rệt.

Anh nói với tôi, lúc nào anh cũng nhớ đến những người bạn đã hy sinh, và con trai. Nhớ lắm, nỗi nhớ thường trực, sâu hút, bám riết lấy anh. Hải Triều sống song hành với nỗi nhớ ấy trong im lặng, và nhiều đau đớn. Nếu không viết, không tìm một chốn trú ngụ nào đó trong những ký ức kia, dù ký ức ấy là của những người đồng đội, những vị tướng lĩnh thì Hải Triều vẫn tìm thấy ở đó ký ức của chính mình.

Tôi biết Hải Triều cần phải nương náu vào đó như một cứu cánh còn lại

Lê Thị Thanh Bình
.
.