Khi “an toàn” chỉ là một khái niệm

Thứ Bảy, 17/01/2026, 21:06

Năm 2001, khán giả đã hồi hộp dõi theo những pha hành động và đấu trí trong bộ phim Oceans Eleven (11 tên cướp thế kỷ) về một vụ cướp casino được dàn dựng tinh vi đến mức hoàn hảo ở Los Angeles. Và cuối năm 2025, khi nước Đức đang yên bình tận hưởng kỳ nghỉ lễ Giáng sinh, một vụ cướp ngân hàng táo bạo, với những tình tiết ly kỳ như phim điện ảnh, đã khiến người ta không khỏi bàng hoàng.

Vụ trộm cuối năm

Rạng sáng 29/12/2025, báo cháy tự động trong tòa nhà chi nhánh ngân hàng Sparkasse ở thành phố Gelsenkirchen, miền Tây nước Đức kích hoạt. Lực lượng cảnh sát và lính cứu hỏa nhanh chóng có mặt tại hiện trường và bất ngờ phát hiện lỗ khoan lớn trên bức tường hầm kho tiền với hơn 3.000 hộc an toàn bị mở toang. Rõ ràng đây không phải là một vụ cướp bình thường mà là một hoạt động tội phạm có tổ chức và rất chuyên nghiệp, thậm chí có thể có sự tiếp tay của các nguồn tin nội bộ.

Khi “an toàn” chỉ là một khái niệm -0
Tường bê tông của ngân hàng Sparkasse ở thành phố Gelsenkirchen (Đức) bị khoan thủng. Ảnh: AP.

Theo hình ảnh ghi lại được từ camera an ninh từ bãi đỗ xe gần đó, giới chức phát hiện những kẻ bịt mặt đã rời khỏi khu vực trên một chiếc Audi RS 6 màu đen vào sớm 29/12. Biển số chiếc xe không thuộc vùng Gelsenkirchen mà đã bị đánh cắp từ chiếc xe khác tại thành phố Hanover, cách Gelsenkirchen hơn 200 km về phía Đông Bắc. Truyền thông đưa tin một số nhân chứng nói rằng họ đã thấy nhiều nam giới mang theo những túi lớn trong cầu thang bãi đỗ xe vào đêm trước đó.

Ngay khi thông tin về vụ việc lan truyền, hàng chục khách hàng đã tập trung bên ngoài chi nhánh Sparkasse, yêu cầu ngân hàng cung cấp thông tin chi tiết và để họ kiểm tra hộc an toàn. Mức độ chuyên nghiệp và quy mô thiệt hại lên tới hàng chục triệu euro không phải là thứ duy nhất khiến vụ việc gây chú ý mà bởi các hộc an toàn tại ngân hàng lâu nay vẫn được xem là nơi trú ẩn gần như tuyệt đối. Bên trong các hộc này có thể là tiền mặt, vàng, kim cương, trang sức và các giấy tờ khác, với giá trị thiệt hại ước tính khoảng 10 - 90 triệu euro. Vụ việc đã diễn ra trong khoảng 36 giờ, từ đêm 27/12 – đêm thứ Bảy, tới tận sáng thứ Hai, ngày 29/12 trong khi tòa nhà vắng tanh, số lượng bảo vệ giảm thiểu, và hầu như không ai biết điều gì đang xảy ra phía dưới.

Báo cáo cho thấy nhiều khách hàng gốc Thổ Nhĩ Kỳ sử dụng các hộc an toàn này để lưu trữ vàng và tài sản cá nhân, một thói quen khá phổ biến trong các cộng đồng di cư ở Đức. Sparkasse thiết lập một đường dây nóng để hỗ trợ khách hàng và bắt đầu quá trình ghi nhận thông tin cá nhân cũng như đánh giá thiệt hại cụ thể, sau đó chuyển thông tin này cho các nhà điều tra. Dù mỗi hộc an toàn được bảo hiểm lên tới 10.000 euro, nhiều khách hàng có thể sở hữu các vật phẩm có giá trị cao hơn, thậm chí là vô giá như những chiếc nhẫn vàng gia truyền hoặc những tờ giấy chứng thực cổ điển - không được bảo hiểm đầy đủ hoặc hoàn toàn không được bảo hiểm. Cảnh sát và ngân hàng Sparkasse xác nhận khoảng 2.700 khách hàng của ngân hàng đã bị ảnh hưởng trong vụ trộm.

Tất nhiên, đây không phải lần đầu các khu hầm và kho an toàn trở thành “pháo đài” bị xâm phạm.

Vụ án ở phố Baker Street (Anh, 1971): Chiếc bộ đàm phản chủ

Đêm 11/9/1971, một băng trộm đã táo bạo đột nhập chi nhánh Ngân hàng Lloyds trên phố Baker, London (Anh) – con phố vốn gắn liền với hình tượng Sherlock Holmes. Băng trộm đã thuê một cửa hàng đồ da có tên Le Sac ngay sát ngân hàng, rồi từ tầng hầm cửa hàng này đào một đường hầm xuyên qua nền đất, hướng thẳng tới kho tiền của Lloyds.

Kế hoạch ban đầu là sử dụng kích thủy 100 tấn để đội sàn kho tiền lên từ bên dưới. Tuy nhiên, khi gần hoàn tất, chúng phát hiện điểm kết thúc đường hầm lại nằm ngay phía trên một cái giếng cũ. Lực kích không đẩy được sàn kho mà khiến nền đường hầm sụt xuống giếng. Buộc phải thay đổi phương án vào phút chót, chúng chuyển sang sử dụng thiết bị cắt nhiệt và loại thuốc nổ mạnh là gelignite để phá sàn bê tông, canh đúng thời điểm tiếng nổ hòa lẫn với tiếng xe cộ ban đêm trên phố.

Sai lầm của băng trộm đã khiến vụ việc có bước ngoặt lớn khi sóng bộ đàm chúng dùng để liên lạc lại bị một người dân sống gần đó là Robert Rowlands, dò được. Rowlands nhanh chóng báo cho cảnh sát địa phương nhưng lại không được chú ý. Mãi cho tới khi ông ghi âm lại toàn bộ cuộc trao đổi qua bộ đàm và chuyển cho giới chức, họ mới nhận thức được vụ việc đang diễn ra bên dưới phố Baker.

Vụ án Baker gây ồn ào bởi những tranh cãi kéo dài về số tài sản thực sự bị lấy đi và danh tính các nạn nhân. Kho tiền chứa hàng trăm hộc an toàn thuộc về các cá nhân và tổ chức khác nhau, khiến việc thống kê thiệt hại gặp nhiều khó khăn.

Khi “an toàn” chỉ là một khái niệm -0
Leonardo Notarbartolo được cho là chủ mưu của “vụ trộm kim cương thế kỷ” ở Antwerpt, Bỉ.

Nice (Pháp, 1976): “Không vũ khí, không hận thù, không bạo lực”

Ngày 16/7/1976, khi phần lớn thành phố Nice (Pháp) chìm trong không khí lễ hội và các cơ quan công quyền đóng cửa, kho tiền của Ngân hàng Société Générale ở trung tâm thành phố trở thành miếng mồi ngon của những kẻ tội phạm. Kẻ chủ mưu lần này là Albert Spaggiari, từng là lính dù trong quân đội Pháp tại Đông Dương, từng dính líu tới các tổ chức cực hữu chống độc lập Algeria, trước khi sống cuộc đời khá lặng lẽ với nghề nhiếp ảnh ở miền Nam nước Pháp.

Spaggiari đã phát hiện hệ thống cống ngầm chạy sát bên dưới kho tiền của ngân hàng Société Générale, và lên một kế hoạch dài hơi. Với sự giúp sức của những đồng phạm, Spaggiari đã đào một đường hầm dài khoảng 8 mét, nối từ cống ngầm lên thẳng sàn kho tiền trong suốt 2 tháng. Công việc diễn ra chậm rãi, kiên nhẫn và có tổ chức, tới mức những kẻ đào hầm còn mang theo thuyền cao su để di chuyển trong cống, kéo dây điện chiếu sáng, đặt nệm hơi và bàn ăn ngay dưới lòng đất, biến nơi này thành một “công trường ngầm” hoạt động liên tục mà không gây chú ý.

Khi tiếp cận được kho tiền, chúng đã có hàng giờ để mở các hộc an toàn. Chiến lợi phẩm được ước tính vào khoảng 46 triệu franc, bao gồm tiền mặt, cổ phiếu và nhiều tài sản giá trị khác. Trước khi rời đi, Spaggiari thậm chí để lại trên tường kho tiền dòng chữ mang tính biểu tượng và đầy thách thức “Sans armes, ni haine, ni violence” (“Không vũ khí, không hận thù, không bạo lực”).

Spaggiari bị bắt không lâu sau đó. Tháng 3/1977, trong phiên xét xử tại tòa án, khi thẩm phán mất tập trung vì một tập tài liệu, Spaggiari bất ngờ lao qua cửa sổ phòng xét xử, nhảy xuống nóc một chiếc ôtô đỗ bên dưới rồi nhanh chóng tẩu thoát bằng xe máy do đồng bọn chờ sẵn. Cuộc vượt ngục táo tợn này thậm chí giúp Spaggiari được nhiều người xem như một “huyền thoại” trong lịch sử tội phạm tại Pháp. Spaggiari lẩn trốn tại nhiều quốc gia và được cho là đã phẫu thuật thẩm mỹ để trốn tránh giới chức. Nhiều nguồn tin cho rằng hắn đã chết năm 1989 vì ung thư phổi. Phần lớn số tiền và tài sản bị đánh cắp trong vụ Nice chưa bao giờ được tìm thấy.

Brinks-Mat (Anh, 1983): Cái bóng ám ảnh nhiều thập kỷ

Sáng sớm 26/11/1983, 6 tên cướp có vũ trang dễ dàng đột nhập kho hàng của công ty Brinks-Mat tại khu vực Heathrow, phía Tây London với sự tiếp tay của nhân viên bảo vệ Anthony Black. Trong kho không chỉ có tiền, ngoại tệ mà là khoảng 3 tấn vàng, tương đương 6.800 thỏi, cùng kim cương, bạch kim và séc du lịch. Băng cướp đe dọa nhân viên giao mã kho, dội xăng lên người họ và đe dọa châm lửa đốt. Tổng giá trị tài sản bị lấy đi được ước tính khoảng 26 triệu bảng theo giá năm 1983 – một con số khổng lồ vào thời điểm đó. Trong số những kẻ bị kết án sau này, hai cái tên nổi bật là Micky McAvoy và Brian Robinson.

Điều khiến Brinks-Mat trở thành một trong những vụ án ám ảnh nhất lịch sử tội phạm Anh lại nằm ở những gì diễn ra sau đó. Phần lớn số vàng bị đánh cắp chưa bao giờ được thu hồi. Việc nấu chảy, pha trộn và “rửa” nguồn gốc vàng liên quan tới nhiều mạng lưới tội phạm có tổ chức. Một số vụ bạo lực và án mạng sau này cũng được nghi ngờ có mối liên hệ gián tiếp với số vàng trong vụ Brinks-Mat, ám ảnh giới điều tra Anh suốt nhiều thập kỷ.

Khi “an toàn” chỉ là một khái niệm -0
Cảnh sát và các nhà báo đang quan sát tuyến đường hầm mà kẻ trộm đã đào để đột nhập chi nhánh Ngân hàng Trung ương tại Fortaleza, Brazil. Ảnh: Tuno de Vieira/AP.

Hatton Garden (Anh, 2015): “Băng trộm hưu trí”

Trong kỳ nghỉ lễ Phục sinh kéo dài 4 ngày đầu tháng 4/2015, khi phần lớn các cửa hàng ở khu phố kim hoàn Hatton Garden đóng cửa, một băng trộm đã đột nhập kho chứa két an toàn để vơ vét số tài sản trị giá 14 triệu bảng.

Kẻ chủ mưu là Brian Reader, một tay trộm lão luyện, có mối quan hệ mật thiết với nhiều tội phạm hàng đầu nước Anh, từng tham gia âm mưu rửa tiền trong vụ trộm Brink's-Mat và nhận án tù 9 năm hồi năm 1986. Sau khi mãn hạn, Reader chuyển nhà, thay đổi danh tính và sống lặng lẽ. Ở tuổi xế chiều, khi người vợ qua đời và bản thân bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt, Reader đã quyết tâm thực hiện “phi vụ cuối cùng”.

Hắn lên kế hoạch đột nhập khi nghe ngóng được tin hầu hết số vàng thất lạc trong vụ trộm Brink's-Mat được cất giữ trong két an toàn dưới tầng hầm của Hatton Garden Safe Deposit Ltd, công ty cung cấp dịch vụ cất giữ tài sản giá trị. Reader đã dành 3 năm ủ mưu, chiêu mộ một hội hưu trí với những kẻ từng có kinh nghiệm đặc biệt về khoan tường, bẻ khóa, vô hiệu hóa hệ thống báo động, và đặc biệt là có lòng trung thành.

Trong số này là Terry Perkins, 67 tuổi, ngồi tù 22 năm vì tham gia vụ cướp 6 triệu bảng của Security Express năm 1983; John Collins, 74 tuổi và Danny Jones, 58 tuổi, có tiền án trộm cắp từ năm 1975. Tối thứ Sáu hàng tuần, băng trộm hưu trí tụ tập tại quán rượu Castle ở Islington, phía Bắc London để lên kế hoạch chi tiết. Cả nhóm quyết định sẽ liên lạc bằng bộ đàm, không dùng điện thoại di động để tránh lưu vết định vị.

Kỳ nghỉ lễ Phục sinh bắt đầu, Brian Reader rời nhà ở Dartford (Kent) trên xe buýt bằng thẻ miễn phí cho người cao tuổi, hướng về khu phố kim hoàn Hatton Garden, London. Khoảng 20h25, John Collins đỗ chiếc xe van màu trắng bên ngoài tòa nhà số 88–90 Hatton Garden trong khi “Basil”, một thành viên khác của nhóm, chịu trách nhiệm vô hiệu hóa báo động và xử lý hệ thống điện. Sau khi chờ người cuối cùng ở cơ sở kinh doanh lân cận rời đi, Basil mở cửa thoát hiểm. Reader cùng các đồng phạm là Terry Perkins, Daniel Jones, Carl Wood và William Lincoln đóng giả công nhân với túi dụng cụ và các thùng rác có bánh xe vào trong tòa nhà. Collins ở bên ngoài làm nhiệm vụ canh gác.

Basil làm kẹt thang máy ở tầng 2, trèo xuống trục thang dẫn tới tầng hầm nơi đặt kho két sắt an toàn. Hệ thống báo động chỉ bị vô hiệu hóa một phần, đủ để cắt điện các cánh cửa sắt bảo vệ lối vào kho. Báo động gửi tín hiệu cảnh báo, nhưng cảnh sát phớt lờ. Những kẻ trộm khoan xuyên bức tường bê tông dày bằng mũi khoan đầu kim cương, tạo một lỗ nhỏ để đột nhập nhưng không thành công bởi tủ kim loại lớn chứa két an toàn được bắt chặt vào sàn và trần nhà, trong khi kích thủy lực 10 tấn mang theo bị gãy. Không thể tiếp tục, nhóm buộc phải tạm rút lui vào sáng sớm hôm sau.

Carl Wood rút lui vào phút chót trong khi Collins, Jones, Perkins và Basil mua thêm thiết bị mới và quay lại Hatton Garden vào tối 4/4. Phi vụ thành công, nhóm trộm  đã mở 73 trong tổng số 550 két an toàn, lấy đi trang sức, vàng thỏi, tiền mặt, kim cương, đồng hồ xa xỉ và đá quý, với tổng giá trị ước tính khoảng 14 triệu bảng. Đến 6h44 sáng 5/4, cả nhóm rời khỏi hiện trường bằng các thùng rác chứa đầy chiến lợi phẩm.

Phải tới sáng 7/4, khi các nhân viên trở lại làm việc sau kỳ nghỉ dài, vụ trộm mới bị phát hiện. Hiện trường ngổn ngang đầy bụi bê tông, các mảnh vỡ và két sắt bị phá. Dụng cụ gây án bị bỏ lại nhưng sạch sẽ mọi dấu vết.

Sở Cảnh sát London thụ lý vụ việc và nhanh chóng lần ra manh mối từ camera giám sát an ninh tại bãi đỗ xe gần đó. Sai lầm của băng cướp hưu trí nằm ở chỗ Collins quay lại khu vực bằng chính chiếc xe Mercedes cá nhân, dấu vết để cảnh sát xác định biển số và theo dõi các thành viên còn lại. Thiết bị nghe lén sau đó được gắn vào xe của Collins và Perkins, ghi lại những cuộc trò chuyện trong đó các đối tượng khoe khoang về “vụ trộm lớn nhất lịch sử” và bàn cách nấu chảy vàng.

Ngày 19/5/2015, cả nhóm bị bắt khi đang tụ tập để chia chác chiến lợi phẩm. Khoảng 200 cảnh sát đồng loạt đột kích, bắt giữ 7 người cùng tang vật, song đến nay, các nhà chức trách mới chỉ thu hồi được khoảng 4,3 triệu bảng và phần còn lại vẫn chưa rõ tung tích.

Năm 2016, các thành viên chủ chốt lần lượt bị kết án tù. Reader nhận mức án 6 năm 3 tháng tù, được thả sớm năm 2018 vì lý do sức khỏe. Reader qua đời vì ung thư vào tháng 9/2023 ở tuổi 84. Trong giấy chứng tử, nghề nghiệp của kẻ chủ mưu được ghi giản dị: “người làm vườn nghỉ hưu”.

Antwerp (Bỉ, 2003): Những viên kim cương đang ở đâu?

Một nhóm trộm đã đột nhập vào căn hầm được tuyên bố là “bất khả xâm phạm” bên dưới Trung tâm Kim cương Antwerp (Bỉ) và lấy đi vô số kim cương, đồ trang sức. Một vụ cướp thế kỷ, và thậm chí đến giờ cảnh sát cũng không thể giải thích chính xác nó được thực hiện như thế nào và số tang vật trị giá gần 100 triệu USD đã thực sự “bốc hơi” ra sao.

Trung tâm Kim cương Antwerp như một mê cung khổng lồ, nơi 80% kim cương thô của thế giới được trung chuyển tại nơi chỉ rộng 3 khối nhà, và được cảnh sát giám sát 24/24 giờ và được 63 máy quay theo dõi. Thời điểm xảy ra vụ việc, năm 2003, người ta ước tính khoảng 3 tỷ USD giá trị doanh số đá quý đã được ghi nhận giao dịch tại đây, đó là chưa tính đến thế giới các giao dịch ngầm và ngoài sổ cái.

Vụ trộm diễn ra vào tháng 2/2003, khi cảnh sát tới, cánh cửa thép dày cả mét hé mở, và hơn 100 trong số 189 két an toàn đã bị phá tung. Sàn nhà rải đầy những xấp tiền mặt và vương vãi những chiếc hộp lót nhung. Những tên trộm có vẻ đã có quá nhiều chiến lợi phẩm đến nỗi không thể mang đi hết.

Căn hầm vốn được cho là không thể xuyên thủng với 10 tầng an ninh, gồm máy dò nhiệt hồng ngoại, radar Doppler, từ trường, cảm biến địa chấn và thiết bị khóa với 100 triệu tổ hợp. Giới chức không thể tìm thấy tang vật, nhưng dựa trên những bằng chứng gián tiếp, người ta thấy manh mối dẫn tới kẻ tình nghi Notarbartolo và kết án hắn 10 năm tù. Notarbartolo luôn phủ nhận có liên quan đến phi vụ và giữ im lặng suốt 6 năm.

Notarbartolo trở thành “người nổi tiếng”, bởi vụ trộm thế kỷ và cũng bởi cảnh sát cho rằng hắn có liên hệ với giới mafia. Trên thực tế không có gì giúp giới chức khẳng định tính chính xác của câu chuyện, tất cả diễn biến chỉ qua lời chia sẻ của Notarbartolo khi vẫn đang trong tù.

Ngày 14/2/2003 (trước vụ trộm 1 ngày), Notarbartolo đã lợi dụng việc sở hữu một két an toàn và thường xuyên thăm viếng khu hầm, khiến bảo vệ trở nên “quen mặt” với hắn, để dùng bình xịt keo tóc lên cụm cảm biến nhiệt. Phi vụ bắt đầu và thao tác thành thục cùng sự chuẩn bị kỹ càng của cả băng nhóm đã giúp chúng dễ dàng đột nhập vào trung tâm từ tòa nhà văn phòng tồi tàn ngay bên cạnh, vô hiệu hóa các biện pháp an ninh để bọc lót cho nhau và trèo vào mái vòm. Bọn chúng bịt camera an ninh bằng túi nhựa màu đen và bật đèn. Cánh cửa hầm sừng sững trước mặt. Không có chuông báo động nào được kích hoạt. Một tấm nhôm “hàng thửa” được dán băng dính hai mặt chịu lực cao được dán vào 2 tấm điều chỉnh từ trường ở phía bên phải cửa kho tiền. Những kẻ trộm dễ dàng tháo chốt của các tấm từ trường, giữ chúng dính sát vào nhau nhưng không còn ở vị trí cần thiết, và cũng không thể giám sát cánh cửa.

Chúng thậm chí còn vô tình phát hiện bảo vệ thường treo chìa khóa hầm tiền tại phòng tiện ích gần đó, và thản nhiên dùng chìa mở hầm. Hệ thống an ninh 10 lớp của hầm chứa kim cương lần lượt bị phá vỡ và cuối cùng hầm tiền mở toang. Những tên trộm bắt đầu phá các tủ sắt bên trong hầm. Những kẻ trộm ghi nhớ cách bố trí các ngăn tủ ký gửi trong căn hầm bản sao đã được nghiên cứu trước, vì vậy có thể thao tác trong bóng tối, chỉ bật đèn pin trong vài giây đủ để đặt mũi khoan lên chiếc tủ tiếp theo. Đến 5h30 sáng nhóm trộm đã mở được 109 két tủ và nhanh chóng chuyển chiến lợi phẩm ra xe của Notarbartolo.

Cảnh sát và các nhà điều tra kết luận nhóm trộm đã lấy đi số kim cương trị giá tới 80 triệu USD, trong khi lời kể của Notarbartolo lại đưa câu chuyện đi theo hướng hoàn toàn khác.

Sau khi rút khỏi hầm, nhóm trộm kéo các túi vải thô về căn hộ của Notarbartolo để “đếm hàng” và chia phần song tất cả vỡ vụn khi trước mặt chúng chỉ là các túi đồ trống. Số tài sản ước tính đánh cắp được ban đầu gần 100 triệu USD giờ chỉ còn giá trị khoảng 20 triệu USD. Notarbartolo cho rằng hắn và đồng bọn đã bị “gài”, trở thành tốt thí trong một vụ lừa đảo bảo hiểm quy mô và bài bản.

Theo lời Notarbartolo, mùa Hè 2001, một kẻ tự xưng là thương nhân kim cương người Do Thái đã tiếp cận hắn, đặt vấn đề cướp căn hầm. Dù cho rằng kế hoạch gần như bất khả thi, Notarbartolo vẫn nhận nhiệm vụ do thám và dần bị kéo vào một kế hoạch lớn hơn. Kết quả là, theo suy đoán của Notarbartolo, gã buôn kim cương người Do Thái có lẽ không hoạt động một mình. Chúng thực chất đã rút hàng khỏi kho trước vụ cướp, lợi dụng vụ việc để tuyên bố số hàng bị đánh cắp và thu tiền bảo hiểm. Notarbartolo nhận ra rằng vụ trộm mà hắn đã dành rất nhiều thời gian để lên kế hoạch có thể thực sự là một phần của một vụ lừa đảo bảo hiểm phức tạp.

Notarbartolo sau đó khai rằng tay buôn kim cương Do Thái không xuất hiện ở Milan như đã hẹn để lấy 1/3 số chiến lợi phẩm vì đã bỏ ra số tiền đầu tư ban đầu và tập hợp nhóm, nhưng cuối cùng, kẻ này biến mất. Notarbartolo trở lại Bỉ, yên tâm rằng hắn sẽ an toàn, nhưng lập tức rơi vào tay cảnh sát. Hắn không khai danh tính của Speedy và tung tích của tên đồng phạm này vẫn còn là bí ẩn. Notarbartolo bị tòa phúc thẩm Antwerp kết án 10 năm tù vào năm 2005 nhưng được ân xá trước thời hạn vào năm 2009, với điều kiện phải bồi thường cho các nạn nhân của vụ trộm. Năm 2011, tòa án phát lệnh truy nã trên toàn châu Âu với Notarbartolo vì không có hành vi bồi thường. Hắn ta bị bắt lại vào năm 2013 tại sân bay Charles De Gaulle ở Paris, Pháp, và tiếp tục ngồi tù đến năm 2017.

Điều đáng nói là chân tướng sự việc cho tới nay vẫn chưa sáng tỏ. Thực chất Notarbartolo giấu số kim cương trộm được ở đâu? Tay buôn kim cương mà theo lời Notarbartolo đã “bốc hơi” với 80 triệu USD có tồn tại không hay chỉ là một nhân vật hư cấu do hắn nghĩ ra để chối tội?

Fortaleza (Brazil, 2005) và đường hầm 80 mét

Cuối tuần đầu tháng 8/2005, sau khi chi nhánh Ngân hàng Trung ương Brazil tại thành phố Fortaleza đóng cửa, một băng nhóm đã âm thầm đột nhập và vét sạch kho tiền. Mãi tới sáng thứ Hai sau đó, ngày 8/8, khi trở lại làm việc, các nhân viên mới phát hiện điều bất thường.

Những kẻ tội phạm đã thuê căn nhà gần ngân hàng, ngụy trang thành một doanh nghiệp bình phong. Trong khoảng 3 tháng, chúng âm thầm đào một đường hầm dài khoảng 80 mét, sâu tới vài mét dưới lòng đất, được gia cố bằng gỗ, lót bạt, thậm chí có cả hệ thống chiếu sáng và thông gió, dẫn thẳng tới kho tiền của ngân hàng, qua mặt các biện pháp an ninh phía trên mặt đất.

Số tiền bị lấy đi ước tính hơn 160 triệu real, tương đương khoảng 75 triệu USD theo tỷ giá thời điểm đó, và tổng khối lượng tài sản đánh cắp là khoảng 3,5 tấn, phản ánh mức độ chuẩn bị và tổ chức của phi vụ này. Cuộc điều tra sau đó kéo dài nhiều năm, với hàng loạt vụ bắt giữ và thu hồi tài sản. Tuy nhiên, chỉ một phần số tiền được tìm lại. Đáng chú ý, một số người tham gia hoặc liên quan tới vụ trộm sau đó thậm chí đã trở thành nạn nhân của các vụ bắt cóc và giết người, khiến vụ Fortaleza trở thành chuỗi bi kịch kéo dài trong thế giới ngầm Brazil.

Những nơi được quảng bá là an toàn bậc nhất để cất giữ tài sản xét cho cùng vẫn có thể bị xâm nhập, có thể là bằng sự chuẩn bị, lên kế hoạch tinh vi, bài bản suốt thời gian dài và tận dụng đúng lúc những kẽ hở trong vận hành thực tế. Chỉ cần một quy trình bị xem nhẹ, một thói quen lặp lại quá lâu, hoặc một sai sót nhỏ trong bảo mật, toàn bộ hệ thống an ninh có thể bị vô hiệu hóa mà không để lại nhiều dấu vết.

“Đạo cao một thước, ma cao một trượng”, có lẽ không có nơi cất giữ tài sản nào thực sự tuyệt đối an toàn!

Dương Anh
.
.