Tuyển bổ quan lại thực thi pháp luật thời xưa

Thứ Ba, 10/03/2026, 12:50

Ngay từ đầu triều Hậu Lê, Vua Lê Thái Tông đã nói với quần thần rằng: "Phép trị nước lấy hình pháp gọn nhẹ làm gốc. Các quan xét xử phải giữ phép công bằng, không được nhận đút lót mà làm sai, để có người bị oan uổng. Các vụ kiện lớn thì mới cho tâu thẳng lên".

Theo lệnh Vua Lê Thái Tông ban bố năm Thiệu Bình thứ nhất (1434), các vụ án, kiện tụng đều phải được xét xử theo đúng quy trình, bắt đầu từ cấp xã: "Từ nay, quân hay dân nếu có vụ kiện nhỏ thì tới chỗ xã quan của xã mình mà trình bày, xã quan không giải quyết được mới lên huyện, huyện không giải quyết được mới lần lượt lên lộ, lên phủ, phủ không không giải quyết được thì bấy giờ được tâu lên. Các vụ kiện ruộng đất cũng thế". Do đó, nhiệm vụ của nhân viên thực thi pháp luật từ cấp dưới là hết sức nặng nề và vai trò của họ cũng rất quan trọng trong nền tư pháp của đất nước.

1.jpg -0
Việc tuyển dụng, bổ nhiệm các quan và lại viên phụ trách hình pháp thời xưa có quy định rất chặt chẽ. Ảnh tư liệu

Sử sách không ghi chi tiết việc tuyển chọn và đào tạo nhân viên pháp luật thời xưa, chỉ thỉnh thoảng điểm trong sử cũ, có vài lần đề cập tới vấn đề này. Điển hình như thời Vua Lý Thánh Tông, vào năm Long Chương Thiên Tự thứ 2 (1067), "Đại Việt sử ký toàn thư" ghi rằng: "Cho Viên ngoại lang là Ngụy Trọng Hòa và Đặng Thế Tư làm Đô hộ phủ sĩ sư, đổi 10 người thư gia làm án ngục lại".

Sĩ sư tên chức quan phụ trách ở Đô hộ phủ, cơ quan coi việc hình pháp của triều Lý. Còn chức thư gia, theo giải thích của học giả Lê Quý Đôn trong cuốn "Kiến văn tiểu lục", tức là ty lại, hay "thư lại" ở trong các phủ, huyện thời sau.

"Toàn thư" cho biết thêm, sau khi bổ nhiệm các quan và lại viên ở cơ quan pháp luật, Vua Lý Thánh Tông đã tìm cách "dưỡng liêm" của họ bằng biện pháp: "Cho Trọng Hòa và Thế Tư mỗi người bổng hằng năm là 50 quan tiền, 100 bó lúa và các thứ cá muối... cho ngục lại mỗi người 20 quan tiền, 100 bó lúa để nuôi đức liêm khiết của họ".

Đời Vua Lý Nhân Tông, năm 1125, sử cũng viết về việc nhà vua dùng bọn Lý Phụng 20 người làm quan lại coi việc hình ngục để xét xử những kiện tụng dân gian. "Triều đình lại nhận thấy những giặc cướp trốn tránh phần nhiều được nhà quyền thế giấu giếm che chở, mà những lại viên đi truy nã cũng không tố giác ra, nên xuống chiếu: phàm ai mà ẩn giấu những kẻ trốn tránh cũng phải tội như người trốn tránh; lại viên nào không đem việc ấy cáo tỏ với quan trên thì phạt 80 trượng", "Toàn thư" ghi rõ.

Về việc tuyển chọn lại viên, được ghi chép trong triều Vua Lý Nhân Tông, năm Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 2 (1077), rằng: "Tháng 2, thi lại viên bằng phép viết chữ, phép tính và hình luật". Trước đó, Bộ luật Hình thư của triều Lý đã được Vua Lý Thái Tông ban hành vào năm 1042, mà nhân sự kiện đó, mới đổi niên hiệu thành Minh Đạo. Như vậy, để trở thành lại viên, các ứng viên phải thuộc và am hiểu hình luật của triều đại.

Sang triều Trần, ngay đời vua đầu tiên là Trần Thái Tông, năm Kiến Trung thứ 5 (1230), nhà vua đã sai "khảo xét các luật lệ của triều trước, soạn thành Quốc triều thống chế và sửa đổi hình luật lễ nghi, gồm 20 quyển". Hiện, bộ hình luật của triều Trần cũng không còn, tuy nhiên các nghiên cứu thời xưa cho rằng nó "rất khắc nghiệt". "Toàn thư" chỉ chép về các mức độ của hình phạt "đồ" (bắt lao dịch) của triều Trần có các mức: Đồ làm Cảo điền hoành thì thích vào mặt 6 chữ, cho ở Cảo xã (nay là Nhật Tảo, Hà Nội), cày ruộng công, mỗi người 3 mẫu, mỗi năm phải nộp 300 thăng thóc; Loại bị đồ làm Lao thành binh thì thích vào cổ 4 chữ, bắt dọn cỏ ở Phượng Thành trong thành Thăng Long, lệ vào quân Tứ sương...

Vua Trần Thái Tông cũng đặt ra ty Bình bạc, là cơ quan hành chính và tư pháp phụ trách kinh thành, và chức kinh doãn, chuyên xét đoán việc kiện tụng ở kinh thành. Đến năm 1265, ty Bình bạc được đổi thành Đại an phủ sứ, sau lại đổi thành Kinh sư đại doãn) là cơ quan hành chính và tư pháp ở kinh đô Thăng Long lúc đó. Tất nhiên, ngoài vị kinh doãn, phải có hàng chục lại viên hỗ trợ trong việc thực thi pháp luật.

Việt tuyển chọn nhân viên hình pháp ở triều Trần được ghi chép ở đời Vua Trần Anh Tông, vào năm Hưng Long thứ 12 (1304), khi triều đình tổ chức thi các thủ phân (tức là quan lại nắm việc hình pháp) bằng việc hỏi phép đối án.

Ngay sau khi lật đổ nhà Trần, năm 1401, Vua Hồ Hán Thương cũng đã tiến hành định lại quan chế và hình luật nước Đại Ngu. Trong khi đó, sau khi chiến thắng quân Minh và lập triều Lê, Lê Thái Tổ lên ngôi năm 1428 thì đến đời cháu của ngài, tức Vua Lê Thánh Tông, bộ "Quốc triều hình luật" của triều Lê mới được biên soạn xong và ban hành trong giai đoạn niên hiệu Hồng Đức, tức khoảng sau năm 1470.

Mặc dù vậy, thì ngay từ đầu triều Lê sơ, vẫn có đủ các quy định pháp luật để quan lại tuân theo mà xử án. Do đó, Vua Trần Thái Tông mới có chỉ dụ "Phép trị nước lấy hình pháp gọn nhẹ làm gốc" như đã đề cập ở đầu bài viết. Sang đời Vua Lê Thánh Tông, năm Quang Thuận thứ 8 (1467), nhà vua tiến hành ban khoa lệnh 11 điều và các điều luật về hình pháp. Khi vị vua anh minh này băng hà, các sử quan đánh giá: "Những hình pháp bạo ngược đều bỏ cả. Vì thế, mới sửa chữa luân thường cho mọi người, chỉnh đốn được giường mối của nhà vua".

Đời Vua Lê Thánh Tông cũng có một lần sử sách ghi chép về việc chọn người tài vào ty hình ngục. Theo "Toàn thư", năm 1478, nhà vua hạ chiếu chọn người có văn học, tài trí, kiến thức cất nhắc làm việc trong ty hình ngục. Tờ chiếu viết: "Nếu viên chức trong Bộ Hình có người nào tài cán kiến thức nông cạn quê mùa, không am hiểu danh lệ hình luật, thì viên quan thượng ty lựa chọn đưa sang Bộ Lại để bổ giữ chức khác, sẽ chọn những tiến sĩ hoặc người dự thi hội đã trúng 3 kỳ mà có tài cán kiến thức hoặc do lại viên xuất thân thông hiểu danh lệ hình luật, những người ấy đã làm việc ở trong kinh hoặc các đạo bên ngoài đủ 2 lần khảo công, để cất nhắc vào làm việc tại Bộ Hình".

Các quy định chi tiết về việc thực thi pháp luật cũng bắt đầu được chỉ rõ từ thời Vua Lê Thánh Tông. Như vào năm Hồng Đức thứ 19 (1488), có chiếu định kỳ hạn xử việc kiện nhỏ là 5 ngày, việc kiện lớn là 10 ngày. Việc quy định thời hạn xử lý các vụ kiện tiếp tục được nhắc lại trong đời Vua Lê Hiến Tông, khi vào năm Cảnh Thống thứ nhất (1498), nhà vua sắc dụ cho Bộ Hình, ty Đình úy và các quan xét xử hình án kiện tụng ở trong và ngoài rằng: "Việc dùng hình phạt là quan hệ đến mạng dân, dùng hợp đạo lý thì dân làm đúng, trái đạo lý thì dân chịu hại. Cho nên Kinh Dịch nghiêm răn việc xử kiện chậm, Kinh Thư coi trọng việc xử tội tù. Như vậy thì việc tra hỏi xử đoán há lại dung cho để chậm được sao!".

Sau đó, Vua Lê Hiến Tông yêu cầu: "Từ nay về sau, Bộ Hình, ty Đình úy và các quan xét xử hình án kiện tụng ở trong ngoài, phàm những việc kiện tình có nghi nan đều phải theo đúng kỳ hạn mà xét xử xong, nếu dám để chậm quá kỳ hạn thì cứ cuối năm cho Cai đạo cùng các chức đề hình, giám sát ngự sử, thanh hình hiến sát sứ kiểm xét tâu lên, sẽ theo luật trị tội. Nếu lấy tình riêng dung tha, không biết xét".

Quan và các lại viên thực thi hình pháp đều phải chịu sự giám sát của nhiều cơ quan cấp trên. Đời Vua Lê Thần Tông, lệnh chỉ ban hành năm Vĩnh Tộ thứ 7 (1625) nêu rõ: "Các nha môn xử kiện làm trái thì cho dân kêu lên, ở ngoài thì Hiến tỵ, ở trong thì Cai đạo và Ngự sử đài tra thực luận tội".

Quy định ban hành đời Vua Lê Chân Tông, năm Phúc Thái thứ 3 (1645) về quy trình xét xử kiện cáo còn rõ ràng hơn nữa: Những việc kiện về hộ hôn ruộng đất, trước hết phải qua xã trưởng, rồi đến huyện quan, huyện không xử xong thì kêu lên phủ, phủ xét đoán không công bằng thì kêu lên Thừa ty, Thừa ty xét chưa được minh thì kêu lên Hiến ty, Hiến ty không xét xử xong thì kêu lên Cai đạo ngự sử, Cai đạo ngự sử xét xử còn có chỗ thiên lệch thì lại kêu lên Ngự sử đài. Ngự sử đài xét lại kỹ lưỡng, phân biệt ngay gian, lại tra xét thực trạng hối lộ của các viên quan trước mà khải lên để xử phạt hay giáng. Nếu kẻ đi kiện kêu bậy không hợp lẽ thì xử trượng hay phạt tùy theo nặng nhẹ. Ngự sử đài xử đoán không đúng thì cho người.

Điều lệ xét xử kiện tụng ban hành dưới thời Vua Lê Hy Tông, năm Vĩnh Trị thứ nhất, (1676), điều chỉnh cho các kiện về hộ hôn ruộng đất và kiện vặt, hạn trong 6 tháng phải xử xong. Kiện về nhân mạng, hạn trong 1 năm phải xử xong. Nhưng, đến năm Chính Hòa thứ 8 (1687), thời hạn xử án bị rút ngắn, khiến các quan lại chỉ được xử các vụ kiện về nhân mạng trong 4 tháng phải xong; kiện trộm cướp và ruộng đất: 3 tháng; kiện về hộ hôn và đánh chửi rút lại chỉ còn 2 tháng.

Năm 1694, Vua Lê Hy Tông ban dụ cho các quan thừa tuyên và phủ châu huyện các xứ trong nước rằng: "Đặt luật để hết gian xảo, sao còn dung kẻ coi thường pháp luật? Đặt quan để hết kiện tụng, sao còn cái tệ bán rẻ chức quan? Việc cấm đoán nếu không nghiêm, mối tranh giành sao dẹp được!". Từ đó, triều đình răn các quan lại phụ trách hình luật rằng: "Từ nay về sau, về việc đòi nhận ruộng đất, còn có kẻ đã quá kỳ hạn mà làm đơn tờ gian dối, biên lên ngày tháng trong hạn để kêu rằng không được khám xét, hay trước đã xét thấy gian dối, thì tuy có lời cung cũng nhất thiết phê "đình", không được xét xử; viên quan nào dám nhận để xử thì Hiến ty xét hặc và tâu lên, sẽ xử tội lưu".

Lê Tiên Long
.
.