Trinh thám trên không trong thời đại mới

Thứ Sáu, 01/05/2026, 14:45

Trinh thám trên không đã và đang là một trong các nhân tố chủ đạo trong chiến tranh hiện đại. Sự xuất hiện dày đặc của nhiều mẫu máy bay không người lái (UAV) phục vụ công tác tình báo, theo dõi và do thám (ISR) trên chiến trường lại càng khẳng định vai trò của trinh thám trên không.

Nghịch lý

Một mẫu máy bay do thám tốt phải có thời gian bay dài, sở hữu nhiều loại cảm biến khác nhau và có khả năng truyền tải dữ liệu liên tục và không bị ngắt quãng. Hai chữ "bền bỉ" là chìa khóa cho sự thành công của máy bay do thám. Nhưng sự bền bỉ ở đây không chỉ là bền bỉ đối với môi trường mà còn là bền bỉ đối với kẻ thù. Khi máy bay đã xâm nhập không phận kẻ địch thì việc bị phát hiện chỉ là vấn đề thời gian. Mục tiêu của những nhà sản xuất vũ khí là kéo dài khoảng thời gian máy bay chưa bị địch phát hiện.

Trinh thám trên không trong thời đại mới -0
Sĩ quan Mỹ làm việc trong máy bay trinh thám.

Máy bay càng bay được xa và bay được lâu thì càng cần đem được nhiều nhiên liệu. Đây là lý do vì sao các loại UAV ISR cánh cứng thường tỷ lệ cánh so với bộ khung khá là cao. Những đôi cánh lớn chứa được nhiều nhiên liệu mà lại có góc cắt radar nhỏ, giúp máy bay khó bị phát hiện hơn.

Vấn đề khó khăn hơn là thiết kế cảm biến cho máy bay. Chỉ một thanh ăng-ten cũng làm thay đổi hình dáng của máy bay, từ đó tạo cơ hội cho radar địch phát hiện. Mặt khác khi cảm biến hoạt động thì bao giờ cũng tạo ra tín hiệu điện từ phát hiện được. Để giải quyết hai bài toán trên, các công ty vũ khí Mỹ đã thiết kế không ít loại cảm biến mới vô cùng hiện đại và phức tạp. Nhưng xu hướng này lại đẩy giá thành máy bay lên cao. Một chiếc RQ-4 Global Hawk có giá hơn 130 triệu USD, còn mẫu E-3 Sentry thì lên đến 300 triệu USD.

Trong khi đó khả năng phát hiện của các hệ thống phòng không đang được cải tiến với tốc độ chóng mặt. Một dàn tên lửa đất đối không ngày nay cũng có đến hai, ba trạm radar phục vụ, mỗi trạm lại được trang bị cả radar tầm thấp và tầm cao để đảm bảo khả năng phát hiện và đuổi theo cả những loại máy bay tàng hình hiện đại. Khả năng chia sẻ dữ liệu giữa các điểm nút trong mạng lưới phòng không cũng được cải thiện, từ đó giúp giảm thiểu ảnh hưởng từ ô nhiễm tín hiệu và sự tấn công của kẻ địch.

Kể từ khi Mỹ và Israel tấn công Iran hôm 28/2 đến nay, các hệ thống phòng không Iran đã hạ được không ít UAV và máy bay ISR của Mỹ và Israel, trong đó có cả những mẫu máy bay hiện đại và đắt tiền như RQ-4 và E-3. Trong khi đó khả năng ISR của Iran kém xa so với Mỹ và Israel và nhiều căn cứ phòng không của họ liên tục chịu ném bom.

Tầm cao mới

Quân đội các nước phương Tây tác chiến theo tư tưởng rằng không quân của họ luôn luôn chiếm ưu thế trên bầu trời, máy bay ISR của họ luôn luôn theo dõi chiến trường để gửi dữ liệu thu thập được tới bộ chỉ huy và cho phép các cấp lãnh đạo ra quyết định theo thời gian thực với độ chính xác cao.

Mặt khác sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, không quân Mỹ dần loại bỏ khỏi biên chế các loại máy bay do thám siêu thanh như U-2 và SR-71 Blackbird. Thay vì phải đối mặt với lực lượng phòng không - không quân hiện đại của Liên Xô, Mỹ chỉ còn phải đối mặt với các nhóm phiến quân không có vũ khí đất đối không tầm xa. Nhiệm vụ do thám được chuyển sang cho các mẫu chiến đấu cơ đa nhiệm (như F-18) và UAV. Trong bối cảnh UAV cỡ nhỏ trở nên ngày càng phổ biến và các lực lượng vũ trang không chính quy cũng sở hữu vũ khí phòng không, Mỹ và các nước đồng minh buộc phải tính đến việc tăng cường khả năng do thám của các loại UAV hoạt động ở tầm cao.

Ông James Stashell, chuyên gia thuộc Viện Nghiên cứu an ninh & quốc phòng Center for a New American Security (Mỹ), cho biết: "Không quân Mỹ từng sử dụng một mẫu UAV do thám siêu thanh tên là Lockheed D-21. D-21 được triển khai bằng cách "đi nhờ" trên lưng một Lockheed A-12 giống như cách một số tàu con thoi được "cõng" bởi máy bay vận tải. Mặc dù D-21 không đáp ứng được kỳ vọng của không quân Mỹ khi đó nhưng ý tưởng về UAV "thứ cấp" được vận chuyển và triển khai từ máy bay "mẹ" vẫn còn sống".

Hồi cuối năm 2024, Lầu Năm Góc đã gửi thư mời các nhà sản xuất vũ khí tham gia chương trình phát triển UAV có thể triển khai từ máy bay tầm cao cỡ vừa. Quân đội Mỹ muốn một mẫu UAV đi kèm phương tiện phóng có thể dễ dàng và nhanh chóng tháo lắp vào các loại máy bay như Bombardier G6500. Họ yêu cầu thiết bị phải hoạt động được trong điều kiện -54 độ C tại độ cao 12,49 km so với mặt nước biển. Mặt khác UAV phải duy trì được tốc độ 740 km/h trong thời gian dài. Hiện vẫn chưa rõ liệu có nhà sản xuất nào đã đồng ý tham gia dự án, nhưng chỉ nhìn vào những yêu cầu trên giấy thôi thì cũng có thể thấy rằng dự án sẽ thử thách cả những tập đoàn giàu nguồn lực và nhân lực.

Quân đội Mỹ không chỉ hướng đến phát triển UAV do thám thế hệ mới mà còn cải tiến các mẫu cũ. Tháng 12/2025, Chính phủ Mỹ đã ký hợp đồng trị giá 500 triệu USD với Công ty Anduril Industries để sản xuất UAV Altius 600. Altius 600 là loại UAV nhỏ lắp được vào các loại máy bay AC-130J Ghostrider, MQ-9 Reaper và trực thăng UH-60 Black Hawk. Chúng sẽ cùng nhau tạo thành mạng lưới "mẹ - con" nhằm theo dõi được diện tích rộng hơn so với khi chỉ dùng một máy bay. Ukraine  hiện sử dụng Altius 600 trên chiến trường sau khi được Mỹ tiếp viện mẫu UAV này vào năm 2023.

Trinh thám trên không trong thời đại mới -0
Chất lượng của những chiếc UAV trinh thám đang tăng lên trong khi giá cả lại hạ xuống.

Đầu tư thông minh

Các quốc gia trong khối NATO duy trì mô hình đầu tư quốc phòng mở, tức là những mục tiêu của một dự án không bị ràng buộc ở một mức cố định mà thay đổi tùy theo yêu cầu của quân đội rút ra từ thực chiến. Kể cả khi một chiếc xe tăng hay chiến đấu cơ xuất xưởng ở Mỹ, Pháp, Đức, v.v… thì chính phủ vẫn không ngừng đầu tư vào nó nhằm cải tiến khí tài. Mô hình đầu tư mở không theo đuổi những mục tiêu cố định mà lại tìm cách liên tục giảm thiểu điểm yếu, phát huy điểm mạnh của sản phẩm.

Việc đầu tư vào lĩnh vực ISR không phải là ngoại lệ. Giá thành của những mẫu UAV và máy bay do thám của các nước phương Tây tăng theo từng năm bởi vì chính phủ lẫn nhà sản xuất đều đang "chạy marathon" để giải quyết các vấn đề căn bản của những loại khí tài trên. Câu hỏi hiện nay là liệu các bên có đang tiến đến điểm tiệm cận về hiệu suất đầu tư? Nói theo cách khác là kể cả khi tăng đầu tư vào nghiên cứu lẫn chi phí sản xuất thì khả năng của sản phẩm cũng chẳng cải thiện là bao.

Người Mỹ hiểu được điều này và đã có một số bước chuyển mình nhất định, đơn cử như việc khởi động dự án Replicator nhằm sản xuất drone giá rẻ tại Mỹ. Tuy vậy dự án lại "sa lầy" khi ký hợp đồng mua mẫu UAV cảm tử SwitchBlade từ AeroVironment với giá thành mỗi chiếc từ 60.000 - 100.000 USD, đi ngược lại mục tiêu của Replicator. Chỉ có chương trình SkyFoundry của Bộ Tư lệnh Hậu cần lục quân Mỹ là tỏ ra có triển vọng. SkyFoundry mới đây tuyên bố đã chế tạo thành công UAV mới bằng máy in 3D. Một bộ thiết bị gồm điều khiển, kính thực tế ảo và 3 chiếc drone chỉ có giá 6.000 USD.

Cuộc chạy đua về trinh thám không chỉ dừng lại ở UAV. Không ít chương trình phát triển vũ khí đánh chặn UAV do thám đang được triển khai tại nhiều nước. Lớp tàu khu trục Arleigh Burke (Mỹ) đang trong quá trình thử nghiệm lắp đặt hệ thống laser Helios của Lockheed Martin. Helios được kỳ vọng sẽ thay thế những chiếc tên lửa đắt tiền đảm nhận nhiệm vụ bắn hạ UAV - một phát bắn laser của Helios có giá chỉ từ 1 - 5 USD. Quân đội Israel cũng đang thử nghiệm một hệ thống laser tương tự mang tên Iron Beam được lắp đặt trên xe tăng và các loại xe thiết giáp khác.

Thực tế chiến trường tại những cuộc xung đột vũ trang hiện nay cho thấy số lượng khí tài quan trọng không kém so với chất lượng khí tài. Cả vũ khí bộ binh lẫn các hệ thống phòng thủ di động và cố định đang ngày càng hiệu quả hơn và mang độ sát thương cao hơn. Để phương tiện ISR phát huy hiệu quả thì chúng phải được sản xuất với số lượng rất lớn và chi phí thấp nhằm vừa "phủ sóng" toàn bộ chiến trường, vừa bồi đắp được số lượng phương tiện đã bị bắn hạ. Mô hình đầu tư mở của các quốc gia khối NATO khó đáp ứng được yêu cầu trên và chắc chắn cần thay đổi nếu như những nước này muốn tiếp tục duy trì lợi thế trên không của họ.

Lê Công Vũ
.
.