Tôi mù?

Thứ Sáu, 09/06/2006, 10:00

Trong cuốn tiểu thuyết "Tôi và những người mù", nhà văn Nguyên Bình đã dành cho nhân vật Thanh lấy từ nguyên mẫu ngoài đời là cô gái mù Nguyễn Thanh Tú một tên gọi: "Còn-hơn-cả-sự-khủng-khiếp". Thế nhưng, sự thật về số phận đau đớn và kỳ lạ của cô gái mù này chỉ thực sự được bộc lộ một cách đầy đủ nhất, chi tiết nhất, và rõ nét nhất trong cuốn tự truyện "Tôi mù?" sắp sửa được ấn hành.

Tôi nương theo những ngõ phố chật hẹp và ngoằn ngoèo để tìm tới nhà Tú trong một ngày Hà Nội nắng nóng như chưa bao giờ hơn thế. Ngôi nhà cấp 4 xây từ thời xa xưa tọa lạc trên một khu vườn rộng, mênh mênh, mang mang bởi gió vi vít những chiếc lá roi già thả đầy sân vàng ruộm. Những chùm khế lúc lỉu, thập thò những chùm quả xanh non tơ sau vòm lá. Mùi hương hoa dại và mùi của cây lá ngây ngấy thơm tôi vẫn thường hít thở ở quê nhà bỗng dưng ùa về nhấn chìm tôi trong một cảm giác lạ lùng. Mẹ của Tú ra mở cổng, một gương mặt mang nhiều nét của người đàn bà xứ Trung Á, lặn chìm những truân chuyên và uẩn khúc không giấu nổi. Tôi bước qua khoảng sân rộng, nắng phủ lên những vòm lá dày và rộng mở xòe ra che chắn.   

Tú đợi tôi ở thềm nhà, dẫu còn nghi ngại bởi cuộc viếng thăm có chủ đích này, Tú vẫn bồn chồn tâm trạng. Có lẽ, với những người khiếm thị như Tú, một sự thay đổi thói quen, một cuộc gặp gỡ, một người mới đến cũng làm nên một chút xáo động nhỏ, và chí ít cũng là một niềm vui bé con làm sống động lên phía bên ngoài cái cuộc sống mang bóng tối vĩnh cửu ấy.

Tôi cảm nhận như vậy, bởi khi tôi đến, có một chút ánh sáng nhỏ hắt bừng lên gương mặt Tú, mẹ Tú, và cả khu vườn mênh mênh, mang mang này. Điều đó làm cho tôi cảm thấy cái công việc mà tôi sẽ làm với Tú hôm nay dường như trĩu nặng hơn, và tôi không biết sẽ đem lại được gì, giúp ích được gì cho cuộc sống của hai người phụ nữ "cô đơn" trong ngôi nhà rộng này.

Tôi bắt đầu câu chuyện với cô gái mù trên chiếc chiếu cói rộng trải giữa thềm nhà. Nắng xiên xiên qua lá rơi lon xon trên trang sổ tôi viết. Tú không bộc bạch nhiều. Có lẽ bản tính của một người từ nhỏ đã học cách tự vệ, để bảo vệ mình, nên ở Tú thường trực một bản năng đề phòng với tất cả. Thế nhưng, rồi Tú cũng mở lòng mình, và đằng sau gương mặt trắng hồng, mái tóc đen nhánh mượt mà của một vóc dáng "không có tuổi", tâm hồn dữ dội của Tú đầy ắp những giằng xé, những dông bão, những ẩn ức.

Tú mắc bệnh Glôcom bẩm sinh. Chạy chữa nhiều nơi, nhưng cố gắng đến tuyệt cùng thì năm lên 10 tuổi đang học lớp 5, Tú bị mù hoàn toàn. Năm 14 tuổi, do nhãn áp tăng quá cao, Tú buộc phải bỏ hẳn đôi mắt để giữ gìn sức khỏe và để tránh những cơn đau đớn triền miên do di chứng thần kinh từ đôi mắt bị hỏng. Sau 10 lần mổ, Tú buộc phải thay mắt nhựa. Từ đó, cả gia đình Tú, đặc biệt là mẹ Tú và bản thân Tú đã mất hết hy vọng dù quá mơ hồ và vô vọng là giữ được đôi mắt cho con gái và nhờ vào một phương thuốc thần kỳ để giúp con gái mình tìm lại ánh sáng. Tú đã đi qua tuổi ấu thơ của mình bằng thứ ánh sáng mờ mờ, và bước sang tuổi thiếu nữ với bóng-tối-vĩnh-cửu.

Giờ đây khi nhắc lại chuyện đó, Tú lắc nhẹ tóc và cười. Tú cũng ngạc nhiên về thái độ của mình, nghĩa là Tú không cảm thấy sốc. Tú đã quen với thứ ánh sáng mờ dần, hư ảo, và rơi dần vào bóng tối bất-khả-kháng. Người sốc nhất phải kể đến là mẹ Tú. Người đàn bà vì cuộc mưu sinh đang đi hợp tác lao động ở Đức bỏ ở nhà 3 đứa con thơ dại với người chồng tần tảo bỗng một ngày nhận được điện khẩn của gia đình: chồng bà bị tai nạn xe máy. Bà bỏ lại tất cả để lao về nhà với hai bàn tay trắng. Cái chết bất đắc kỳ tử của người chồng đã đưa gia cảnh của người đàn bà với ba đứa con thơ dại đứng trước những dông tố mới. Một năm sau chồng mất, Tú - con gái bà phải bỏ hẳn đôi mắt.

Đến bây giờ, khi kể lại, bà vẫn không cầm được nước mắt. Nước mắt của người mẹ vất vả, chảy từ ngày sinh con ra biết con sẽ bị mù, đến bây giờ vẫn chưa thôi rơi. Phải mất hàng năm trời sau đó bà mới tĩnh tâm, mới quen dần với đôi mắt nhựa của cô con gái yêu bé bỏng. Bà đã phải khốn khó lao đao trước sóng gió của số phận định-mệnh-cay-nghiệt.

Cô gái mù là Tú lớn lên trong hoàn cảnh và số phận bất hạnh như vậy. Mồ côi cha từ nhỏ, hai mắt lại bị mù, bao nhiêu tình thương yêu, sự xót xa mẹ và hai chị gái đều dành cả cho Tú. Tú lớn lên trong biển lớn tình yêu ấy, Tú không biết làm gì, không tự chăm sóc được cho mình, không tự chủ được cuộc sống. Tú cười cay đắng khi nói vui rằng Tú là "nạn nhân của tình yêu thương".

Thế nhưng, trong những người mù ấy, Tú là cô gái có những khả năng kỳ lạ. Số phận may mắn đã cho Tú gặp được nhà văn Nguyên Bình, người đang hướng dẫn cho những người mù và những người bệnh một phương pháp dưỡng sinh chưa từng biết đến ở Việt Nam có tên gọi là: Tĩnh công ý thức.

Cũng cần nói thêm rằng, chuyện nhà văn Nguyên Bình đến với Tĩnh công ý thức là do sự run rủi kỳ lạ khi năm 1994, vợ ông bị bệnh thiểu năng tuần hoàn não, rối loạn tiền đình rất nặng, hàng tháng trời không rời khỏi giường, cả năm không ra khỏi nhà. Bệnh này không có thuốc đặc trị. Lúc đó, nhiều người khuyên nhà văn đến học môn này để về dạy cho vợ may ra khỏi bệnh. Không tin lắm nhưng ông đã lên Côn Sơn để học.

Tĩnh công ý thức có 3 nội dung: thực pháp, linh pháp và hư pháp, ông chỉ xin học thực pháp. Học được 5 hôm, điều kỳ lạ đã xảy ra, đang đêm, thức dậy ông đột nhiên nhìn thấy mọi thứ xung quanh sáng bừng lên, tất cả các đồ đạc hiện ra cực rõ như ban ngày. Ông mở choàng mắt ra thì thấy xung quanh trời vẫn tối đen như mực. Nhắm mắt lại thấy không gian bừng sáng. Ông hoang mang cực độ, tim đập mạnh. Thử đi thử lại hàng chục lần vẫn như vậy. Lúc đó ông lờ mờ hiểu ra rằng mình đang nhìn bằng con mắt thứ ba mà nhà Phật vẫn gọi là Huệ nhãn.

Kể từ buổi sáng tinh mơ kỳ lạ đó, nhà văn Nguyên Bình hiểu rằng ông đã gắn bó với Tĩnh công ý thức với một niềm tin vô điều kiện. Ông chăm chỉ luyện tập. Ông phát hiện ra mình có những khả năng kỳ lạ như nhắm mắt mà vẫn xem được tivi, bạn bè ông bịt mắt lại viết các chữ đưa ông đọc vanh vách. Sau này khi đã hướng dẫn cho vợ tập Tĩnh công ý thức và chữa lành bệnh cho vợ, ông đã tìm đến Hội Người mù Việt Nam, gặp Phó Chủ tịch Hội Trần Công Nhuận đề nghị một số người mù tình nguyện luyện tập.

Ngày 28/10/1995, Hội Người mù tham gia buổi tập đầu tiên trong đó có cụ Trần Công Nhuận và Nguyễn Thanh Tú. Và cũng từ đó, thầy trò gặp nhau trong định-mệnh. Cả nhà văn Nguyên Bình cũng không ngờ Tú lĩnh hội nhanh và mau chóng trở thành một nhân vật "còn-hơn-cả-sự-khủng-khiếp" của Tĩnh công ý thức, cứ như thế, thiên bẩm Tú đã có sẵn những khả năng ấy chỉ chờ ngày khai mở. Sau những thành công ban đầu, hai thầy trò mở lớp hướng dẫn cho đa số những thương binh hỏng mắt ở phố Nguyễn Thái Học và thu lại những thành công hết sức khả quan.--PageBreak--

Đã hơn 10 năm nay, Tú theo thầy là nhà văn Nguyên Bình, truyền dạy và hướng dẫn phương pháp Tĩnh công ý thức cho những người mù. Trong cuốn tiểu thuyết "Người mù và tôi", sở dĩ nhà văn Nguyên Bình gọi Tú bằng tên "Còn-hơn-cả-sự-khủng-khiếp" là bởi ông sớm nhận ra ở cô gái bé bỏng này những khả năng kỳ lạ trong việc tiếp nhận thực pháp, linh pháp và hư pháp của Tĩnh công ý thức. Tú có thể khai mở nhãn thần, nhìn sự vật bằng Huệ nhãn. Tú có khả năng hướng dẫn cho những người bị bệnh mãn tính như: u não, xơ gan, viêm thận, đặc biệt là huyết áp, tiểu đường... tập và đẩy lùi được bệnh tật. Tú được thầy Nguyên Bình thu làm đệ tử, cô giáo thứ 2 có khả năng đặc biệt sau thầy để hướng dẫn phương pháp dưỡng sinh Tĩnh công ý thức cho những người mù và những người bệnh có nhu cầu. Mặc dù việc học chỉ đến lớp 5, thế nhưng, khi gặp Tú và trò chuyện với Tú, không chỉ mình tôi mà tất cả đều có một nhận xét Tú có một trí nhớ siêu, kiến thức về y học khá rộng, đáng cho người có trình độ phải ngạc nhiên.

Nói về những thành công ban đầu của thầy trò Tú, phải kể đến người vợ và là bệnh nhân nặng của nhà văn Nguyên Bình không những khỏi bệnh mà còn trở thành một người khỏe mạnh, đi làm và đi xe máy về quê cách Hà Nội 100km. Bản thân nhà văn Nguyên Bình thời gian gần đây bị ung thư bàng quang, bác sỹ bảo phải mổ, cuộc sống tính từng ngày, từng giờ. Thế nhưng, cũng bằng phương pháp Tĩnh công ý thức, ông đã luyện tập đẩy lùi bệnh tật, lấy lại trọng lượng cơ thể. Về chuyện này, ông đã viết bút ký "Thần chết, chào nhé" đăng trên Báo Văn nghệ năm 2004.

Môn dưỡng sinh của thầy trò Tú được các bác, các cụ thương binh ở Nguyễn Thái Học, hội viên Quận hội Người mù Hoàn Kiếm, rồi Cầu Giấy theo học cả thảy độ trên 50  người, hơn nửa đã được ánh sáng cứu rỗi theo từng cấp độ. Rồi những địa chỉ tin cậy về những người mù, và những người bệnh theo học thành công mà Tú cung cấp cho tôi xin viện dẫn ra đây để bạn đọc tham khảo: cô gái mù Thu Trang, sinh viên Khoa Tâm lý, Trường Đại học KHXH&NV; Nguyễn Thanh Huyền số 31, ngõ 19, phố Lạc Trung; Lê Minh Ngọc, số 9, ngách 25, ngõ Thịnh Hào 1, Tôn Đức Thắng; ông Hoàng Văn Bạo, 23 Hàng Cháo; các ông Đinh Văn Hạ, Nguyễn Văn Nhân là những người mù ở Trại thương binh Nguyễn Thái Học...

Nói về Tĩnh công ý thức (thực chất là Dưỡng sinh phục hồi chức năng - DSPHCN), Giáo sư - bác sỹ Vi Huyền Trác, người có thâm niên giảng dạy ở Đại học Y Hà Nội hơn 40 năm, đã cất công theo thầy trò Tú để tìm câu trả lời cho những hiện tượng kỳ lạ này, phát biểu: Việc người mù nhìn thấy ánh sáng nhờ luyện dưỡng sinh là có thật, ông đã tận mắt chứng kiến. Theo ông, người mù nhìn được liên quan đến hoạt động của tuyến tùng. Tuyến tùng nằm ở trung tâm não, Tây y coi đó là nơi điều hòa nước của cơ thể, còn đối với Đông y, đó là kho thông tin vô tận và khi cần có thể thay thế một số chức năng của não. DSPHCN với nhịp thở đã gõ cửa tuyến tùng, mở ra con mắt thứ ba. Lý thuyết để giải thích cho hiện tượng người mù nhìn thấy ánh sáng có vẻ quá đơn giản, nhưng bản thân thầy trò Tú không phải là một nhà lý thuyết, mà đi từ thực tế, và có những điều bản thân thầy trò Tú cũng đang cần sự lý giải của các nhà khoa học.

Năm 2003, Báo Tiền Phong đã có phóng sự dài kỳ về câu chuyện những người mù nhìn thấy ánh sáng đã kể khá chi tiết về công việc của nhà văn Nguyên Bình và Tú. Thế nhưng, đã hơn chục năm nay, công việc của họ vẫn chỉ là một sự thử nghiệm trong mắt thiên hạ. Thầy trò Tú vẫn âm thầm lặng lẽ đi làm từ thiện, và khó khăn vẫn chồng chất khó khăn. Song, điều mà tôi muốn chia sẻ cùng với bạn đọc ở đây là số phận của một cô gái mù dám đấu tranh với thân phận để vượt lên sự tồn tại. Cuộc sống hiện tại của Tú là một nghị lực, một bản năng sống, bản năng đấu tranh để sinh tồn quyết liệt và mạnh mẽ. Tú nói với tôi, rơi vào hoàn cảnh bắt buộc, em buộc phải sống. Phải sống cho dù cuộc sống ấy có khổ đau giằng xé đến đâu.

Tú bắt đầu viết tự truyện "Tôi mù?" từ năm 1999, mỗi ngày tích cóp một ít chủ yếu là kể về công việc chuyên môn của thầy trò, những câu chuyện về những người bạn mù, những học trò mù, những thành công trong phương pháp DSPHCN, mỗi thứ một ít. Cuốn sách này Tú đang gửi cho nhà sách Đông A chuẩn bị xuất bản. Với Tú, đó là một bức thông điệp vô cùng quan trọng cô gửi tới tất cả những người mù có số phận bất hạnh: Nếu dám ước mơ và dũng cảm kiên trì biến ước mơ đó thành sự thật thì điều không thể cũng trở thành có thể. Bằng chứng là cuộc đời của Tú, và bạn bè của Tú, những người mù đã tìm thấy lại thứ ánh sáng kỳ diệu ấy. Và trong cuốn tự truyện ấy, điều làm cho tất cả chúng ta đáng ngạc nhiên ở cô gái mù này chính là hành trình đi tìm ánh sáng. Thế nhưng, đằng sau đó là đi tìm chính mình, trả lời cho câu hỏi mình là ai, mình từ đâu tới, mình đến đây làm gì và mình sẽ đi về đâu. Tôi nghĩ, đó là một tự truyện đáng cho những người sáng mắt như chúng ta tìm đọc

.
.