Ứng xử với xưa cũ
LTS: Những gì cổ hủ, lạc hậu ắt là xưa cũ. Nhưng có phải những gì xưa cũ cũng đều cổ hủ, lạc hậu hết hay không? Ứng xử với xưa cũ thế nào để đảm bảo vẫn giữ tốc độ tăng trưởng tiến bộ và vừa không “đánh rơi” đi mất phần tinh thần?
Ngoài cuộc và trong cuộc
Hơn một thập kỷ trước, có một phóng sự ảnh nổi tiếng về lễ hội chém lợn ở làng Ném Thượng (Bắc Ninh) khiến dư luận sửng sốt: chú lợn sống bị bổ đôi bằng một cây đao lớn ngay giữa sân đình làng.
1. Ai cũng cho rằng đấy là một hủ tục dã man, cần phải bị xóa bỏ. Bản thân tôi khi xem xong chùm ảnh cũng đồng tình ngay lập tức, vì những ấn tượng quá mạnh và không thể chối bỏ. Thế kỷ 21 rồi mà còn chém lợn công khai thị chúng thế này.
Và khi một hình ảnh viral (lan truyền) trên mạng, sức ép lập tức xuất hiện. Tổ chức Động vật châu Á lên tiếng mạnh mẽ, yêu cầu xóa bỏ các nghi thức gây ra sự đau đớn cho động vật. Theo đại diện của họ, thì việc giết những con lợn một cách dã man như lễ hội ở Ném Thượng “không chỉ gây đau đớn cho những con vật mà còn làm trơ lì cảm xúc của những người chứng kiến, ảnh hưởng xấu tới hình ảnh Việt Nam”.
Tranh cãi quanh lễ hội này lan đến cả diễn đàn Quốc hội: có đại biểu còn liên tục kiến nghị xóa bỏ nghi thức này trong 3 nhiệm kỳ liên tiếp của mình. Người phát ngôn Bộ Văn hóa cho rằng không thể bảo thủ giữ lại tục chém lợn.
Khi nhìn vào áp lực đã lên đến các cấp cao nhất của chính quyền kiểu này, điều đầu tiên tôi nghĩ đến là rồi chuyện này sẽ trôi qua thôi. Chỉ là ngừng chém công khai một chú lợn thôi mà. Bỏ đi cũng tốt. Đúng là nó cũng làm ảnh hưởng ít nhiều hình ảnh Việt Nam thật, như lời của đại diện Tổ chức động vật châu Á.
Nhưng những diễn biến tiếp theo đã làm tôi ngạc nhiên. Dân làng Ném Thượng đã họp bàn, và không những không chịu bỏ tục chém lợn, mà còn kiên quyết không đổi tên lễ hội. Họ cho rằng đấy là nghi thức tái hiện lại truyền thống mổ lợn đánh giặc của cha ông, vừa giáo dục lòng yêu nước, vừa là dịp để con cháu tụ họp, tưởng nhớ tổ tiên.
2. Một lần, tôi thấy trên mạng người ta đăng một bức ảnh về giải chạy marathon ở một địa phương và cười cợt. Lý do là trên huy chương có in hình… dương vật. Trông có vẻ lạ, nhưng đó là hình ảnh được nâng lên tầm tín ngưỡng ở nơi diễn ra giải chạy.
Sau này, tiếp xúc người của ban tổ chức và dân địa phương, tôi thấy việc cười cợt trở nên vô duyên, dù trong một bối cảnh khác, thú thực là rất khó để giữ được sự nghiêm túc. Hóa ra cái mà từ bên ngoài người ta cười cợt thì những người trong cuộc lại có thể tôn sùng đến thế, trong hệ thống niềm tin của họ.
Trong 12 Nguyên tắc Đạo đức của UNESCO về Bảo vệ Di sản Văn hóa Phi vật thể (được thông qua năm 2016) hướng dẫn cộng đồng và quốc gia bảo tồn di sản một cách tôn trọng, bền vững, có một điều mang tinh thần tương tự: “Mỗi cộng đồng, nhóm hoặc cá nhân nên tự đánh giá giá trị của di sản văn hóa phi vật thể của chính mình và di sản văn hóa phi vật thể này không nên bị phán xét giá trị từ bên ngoài”. Nguyên tắc này là câu trả lời cho rất nhiều băn khoăn của tôi từ trước tới giờ, mỗi khi chứng kiến một sự thật hơi khó hiểu, như là văn hóa sở hữu súng ở Mỹ (dù nó gây ra rất nhiều vụ xả súng hàng loạt), lễ hội đấu bò ở Tây Ban Nha (dù không ít đấu sĩ phải chết trong quá trình biểu diễn), hay tục săn cá voi ở Nhật Bản.
Tại sao họ không xóa bỏ chúng? Từ bên ngoài, chúng ta tưởng như đã biết câu trả lời, thậm chí còn cho rằng đó là một câu trả lời rành rành, không còn gì hợp lý hơn: cái giá để giữ những thông lệ như thế có thể là rất lớn. Nhưng từ trong cuộc, mọi chuyện hoàn toàn khác.
3. Sau những lần tự lật lại nhận thức kiểu vậy, tôi nuôi dưỡng một cách nhìn khác, khi nhìn vào những lễ hội/nghi thức/di sản và tự nhiên cảm giác kỳ quặc dâng lên trong lòng: tôi luôn phải tự nhủ rằng “này, mình chỉ là một người ngoài cuộc; mình không có ký ức về chuyện này, và hệ thống niềm tin của mình không có đủ dữ liệu để đánh giá, chứ đừng nói là phán xét”.
Nếu có thay đổi nào đó, thì nó phải là lý do của một cuộc phản tư từ bên trong, của những người thực sự nghiêm túc với những biểu tượng/nghi thức kỳ quặc, thậm chí hài hước, trong mắt những người ngoài cuộc.
Dường như năm nào cũng vậy, cứ sau Tết, những cuộc phản tư về các lễ hội và nghi thức lại nổ ra, từ hội đâm trâu, chém lợn, hoặc cướp phết. Trước đây, tôi cho rằng đó có thể xem như những cuộc thảo luận nghiêm túc.
Nhưng sự đa dạng văn hóa của một quốc gia hay cộng đồng không được tạo ra từ góc nhìn của những người ngoài cuộc, mà đến từ hệ thống niềm tin hình thành từ ký ức và truyền thừa qua nhiều đời của cộng đồng đã sản sinh ra nghi thức/tục lệ. Bạn có thể bài trừ hoặc xóa bỏ bằng một cuộc tẩy chay, một mệnh lệnh hay một bài báo khắc nghiệt chẳng hạn, nhưng rất khó để có được tính chính danh trong sự can thiệp thô bạo vào hệ thống niềm tin ấy.
Phạm An
Khi xưa cũ không còn vừa với đời sống
“Quốc Bảo” - một bộ phim về nghệ thuật truyền thống “kabuki” của Nhật Bản mở ra câu chuyện lớn hơn, về cách con người hôm nay đối diện với những gì đã từng là nền tảng của mình. Giữ lại, hay buông bỏ, chưa bao giờ là lựa chọn đơn giản.
Đèn trong rạp tắt. Màn hình mở ra một khoảng tối sâu. Từ trong đó, một gương mặt hiện lên. Lớp phấn trắng phủ kín, xóa đi những đường nét riêng, trả lại một khuôn mặt đã tồn tại từ rất lâu trước đó. Người đàn ông đứng trên sân khấu không còn là chính mình. Anh mang một hình hài khác, cổ xưa, được gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Trong bộ phim “Quốc Bảo” của đạo diễn Lee Sang-il, câu chuyện không dừng ở nghệ thuật. Nhân vật Kikuo Tachibana (Ryo Yoshizawa thủ vai) xuất thân từ một gia đình yakuza, được nghệ sĩ Kabuki Hanai Hanjiro II (Ken Watanabe thủ vai) nhận nuôi sau một biến cố. Từ năm 14 tuổi, Kikuo bước vào con đường khắc nghiệt của Kabuki, nơi từng cử chỉ đều bị quy định, từng ánh mắt đều có khuôn mẫu. Anh theo đuổi vai onnagata, dạng vai nữ do nam đảm nhận, đòi hỏi kỷ luật gần như tuyệt đối. Bên cạnh anh là Shunsuke (Ryusei Yokohama thủ vai), vừa là bạn diễn, vừa là đối thủ. Áp lực gia tộc Tanba-ya, những scandal cá nhân, những thất bại không được phép lặp lại. Con đường ấy kéo dài nhiều năm. Không có chỗ cho sai sót. Cũng không có chỗ để rời đi nguyên vẹn.
Kabuki, loại hình sân khấu xuất hiện từ thế kỷ 17, với hóa trang trắng, trang phục cầu kỳ và hệ thống ký hiệu biểu diễn chặt chẽ, được đưa lên màn bạc thế kỷ 21 theo một cách khác. Máy quay tiến sát. Người xem nhìn thấy lớp phấn, mồ hôi, sự run rẩy. Bộ phim dài gần ba tiếng, đạt doanh thu hơn 20 tỷ yên tại Nhật Bản, tương đương khoảng 3.370 tỷ đồng, và tạo nên làn sóng quan tâm mới khi ra rạp Việt Nam vào tháng 3/2026. Nhiều khán giả chưa từng bước vào nhà hát Kabuki, có thể nói là mơ hồ về nghệ thuật kinh điển của Nhật Bản, vẫn ngồi lại đến cuối phim. Sự im lặng kéo dài. Khán giả nhận ra một khoảng cách. Một thứ đẹp, uy nghiêm, nhưng không còn thuộc về đời sống của họ một cách tự nhiên.
Khoảng cách ấy không chỉ nằm trong bộ phim. Câu chuyện tại sới vật thôn Thái Lai, xã Kim Anh, Hà Nội cuối tháng 2/2026 là một ví dụ. Dây thừng quây vòng. Tiếng trống dồn dập. Hai đô vật bước ra, cúi chào, rồi lao vào nhau. Hình ảnh ấy đã quen thuộc với nhiều thế hệ người Việt. Nhưng, sau một cú quật mạnh, một đô vật lấm lưng trắng bụng giữa đám đông hò reo, rồi không bao giờ đứng dậy nữa. Anh Nguyễn Văn T., 44 tuổi, bị chấn thương cổ nghiêm trọng. Dù được đưa đến Bệnh viện Việt Đức, anh tử vong vào sáng hôm sau. Video ghi lại sự việc lan truyền trên mạng xã hội chỉ sau vài giờ.
Ở nhiều ngôi chùa, những đống vàng mã cháy rực. Theo thống kê của Keep Vietnam Clean năm 2026, mỗi năm cả nước đốt gần 60.000 tấn vàng mã, tương đương khoảng 5.800 tỷ đồng. Quá trình đốt thải ra bụi mịn PM2.5, CO, NO, SO và dioxin, những chất ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và môi trường.
Những hình ảnh này đặt cạnh nhau, không cần thêm lời. Tất cả từng có ý nghĩa. Từng là một phần của đời sống cộng đồng. Nhưng khi bối cảnh thay đổi, chúng bắt đầu lệch khỏi vị trí ban đầu.
Ngày trước, sới vật là nơi những người quen biết nhau tụ lại. Họ hiểu luật, hiểu giới hạn. Hôm nay, đám đông khác, áp lực khác, rủi ro tăng lên. Ngày trước, nghi lễ diễn ra trong phạm vi hẹp. Người tham gia chia sẻ cùng hệ giá trị. Hôm nay, mọi thứ nằm dưới ánh nhìn của hàng triệu người, với những chuẩn mực khác về an toàn, môi trường và đạo đức. Không phải tập tục thay đổi, mà là môi trường xung quanh đã khác. Cái cũ trở nên lạc hậu khi nó không còn vừa với đời sống. Tin tức lan nhanh. Chỉ vài giờ sau sự cố ở Kim Anh, video đã xuất hiện khắp mạng xã hội. Một luồng ý kiến hình thành ngay lập tức. Nên dừng. Nên cấm. Không thể để lặp lại. Ở phía khác, những người lớn tuổi trong làng ngồi lại. Họ nhắc về những mùa xuân trước, khi sới vật là niềm tự hào, khi không có tai nạn, khi tinh thần thượng võ được giữ trọn. Hai dòng suy nghĩ tồn tại song song.
Phản ứng đầu tiên thường đến từ sự sợ hãi. Khi một tập tục gây hậu quả, cách nhanh nhất là loại bỏ nó. Nhưng khi một tập tục biến mất, thứ mất đi không chỉ là hành động. Nó kéo theo ký ức, mối quan hệ, một phần cấu trúc cộng đồng. Ở chiều ngược lại, việc giữ nguyên từng chi tiết cũng không giúp duy trì sức sống.Trong các nhà hát truyền thống, tuồng, chèo, cải lương vẫn được biểu diễn theo đúng khuôn mẫu cũ. Khán phòng ngày càng thưa, giới trẻ hoàn toàn vắng mặt. Họ sẽ không tiếp tục khi không tìm thấy sự đồng cảm. Vì vậy, giữ nguyên không đồng nghĩa với giữ được.
Quay trở lại phim “Quốc Bảo”, Kabuki không bị đặt vào bảo tàng, cũng không bị giản lược để dễ hiểu. Nó được kể lại bằng một ngôn ngữ khác: Điện ảnh. Người xem không cần hiểu hết cấu trúc của sân khấu Kabuki, nhưng họ vẫn cảm nhận được con người bên trong. Một cách tiếp cận khác được mở ra.
Nếu ai từng đến Seoul, sẽ có cảm giác rất đặc biệt khi thăm quan Bukchon Hanok Village. Những ngôi nhà hanok giữ nguyên kiến trúc cũ. Giữa không gian ấy, những nhóm bạn trẻ mặc Hanbok. Vải nhẹ, thiết kế gọn, kết hợp với giày thể thao. Họ đi dạo, chụp ảnh, ngồi cà phê. Không có quy định nào buộc họ phải mặc như vậy. Trên sân khấu, nghệ thuật Pansori được phối lại với tiết tấu nhanh hơn, cấy thêm những âm thanh của nhạc cụ hiện đại. Các nghệ sĩ như Leenalchi hay Song Sohee đưa pansori đến gần hơn với khán giả trẻ.
Tại Trung Quốc, phong trào Hanfu (hán phục) phát triển mạnh. Năm 2025, thị trường Hanfu đạt hơn 20 tỷ nhân dân tệ. Riêng Tào Huyện có hơn 1.100 doanh nghiệp, doanh thu khoảng 2 tỷ nhân dân tệ/ năm. Hàng triệu người trẻ mặc Hanfu trong đời sống thường ngày, trong các video trên nền tảng mạng xã hộiDouyin và Xiaohongshu.
Ở Việt Nam, những chuyển động tương tự cũng xuất hiện. Tại Bát Tràng, gần 200 doanh nghiệp và khoảng 1.000 hộ sản xuất tạo ra giá trị hơn 2.000 tỷ đồng/năm. Sản phẩm không dừng ở kiểu dáng cũ. Người thợ thử nghiệm màu men, hình thức, cách tiếp cận thị trường. Áo dài xuất hiện trong đời sống hàng ngày. Lễ hội Áo dài TP Hồ Chí Minh năm 2026 thu hút hơn 50.000 người tham gia. Phố cổ Hội An giữ nguyên kiến trúc, nhưng bên trong là một nhịp sống mới, gắn với du lịch và dịch vụ.
Những gì còn tồn tại đều có điểm chung. Chúng vận động, thay đổi, để tạo ra một điểm gặp giữa quá khứ và hiện tại. Những gì đã cũ không biến mất ngay, mà lùi lại một bước, đứng ở rìa của đời sống, chờ một cách gọi tên khác. Nếu không, một lễ hội có thể dừng lại, một nghi thức có thể bị xóa đi, một loại hình nghệ thuật có thể chỉ còn lại trong ký ức của vài người. Nó xảy ra như cách một căn nhà cũ dần bị bỏ trống, cửa vẫn mở, nhưng không còn ai bước vào.
Điều còn lại, có lẽ, không nằm ở việc giữ nhiều hay ít, mà ở việc ta có đủ kiên nhẫn để hiểu những thứ xưa cũ ấy là gì, và có đủ tinh tế để thay đổi nó mà không làm nó vỡ vụn. Người nghệ sĩ trong “Quốc Bảo” vẫn đứng trên sân khấu, mang một gương mặt đã tồn tại từ nhiều thế kỷ. Nhưng nhờ một bộ phim, anh được nhìn thấy bởi những người chưa từng biết đến Kabuki. Một sợi dây rất mảnh được nối lại. Chừng đó thôi, đôi khi đã là đủ để một điều gì đó tiếp tục tồn tại.
Trong đời sống này, có những thứ không chết vì xưa cũ. Nó chỉ chết khi đã cũ mà chẳng thuộc về bất cứ ai…
Dương Thái Sơn
Thiết kế sinh quyển mới cho cái cũ
Mấy ngày gần đây, nhiều người lên mạng xã hội “khoe” ảnh một Hà Nội ngăn nắp hơn rất nhiều sau khi chính quyền thành phố ra quân kiên quyết trả lại vỉa hè cho người đi bộ. Cái đẹp “mới” tất nhiên luôn mang lại hào hứng. Đặc biệt là khi cái đẹp ấy mang lại sự thuận tiện trong sinh hoạt, đúng lề luật và trả lại cái quyền (của người đi bộ) vốn đã bị tập quán tước đi rất nhiều suốt nhiều năm rồi.
Nhưng cũng có một số người nhớ vài góc cũ. Không biết họ sẽ nhớ những góc ấy được bao lâu? Có thể họ sẽ quên nhanh thôi, khi cái mới dần cũng thành tập quán. Nhưng cũng có thể sẽ có những góc họ sẽ nhớ mãi, như cái chợ Hàng Bè chẳng hạn.
Chợ Hàng Bè cũ đã được quy hoạch lại từ rất lâu, 16 năm trước, và di dời về phố Vọng Hà. Nhưng kể từ khi chuyển về đó, cái chợ mới thì vắng vẻ còn cái chợ cũ thì vẫn hút khách dù chỉ còn những hộ kinh doanh nhà mặt tiền còn tồn tại mà thôi. Với người Hà Nội, chợ Hàng Bè không chỉ là một cái chợ truyền thống. Nó là văn hóa.
Chợ Hàng Bè ở Hà Nội không khác gì Chợ Cũ ở TP Hồ Chí Minh. Nó là văn hóa chứ không chỉ còn là cái chợ. Để đi mua một món gì đó mà chợ Hàng Bè hay Chợ Cũ phân phối, người dân có thể đến các điểm buôn bán khác, thậm chí còn có hàng chất lượng hơn. Để thèm cái cảm giác “cũ cũ” là đi chợ truyền thống, người dân cũng có nhiều lựa chọn. Và để cung cấp những thứ giống như chợ truyền thống cung cấp, ví dụ như chọn một con gà sống đẹp đẽ và được xử lý sạch sẽ ngay tại chỗ, một siêu thị hoàn toàn có thể tạo ra dịch vụ tương tự. Nhưng tất cả những thứ đó đều không thay thế được một thứ đã trở thành văn hoá của những “chợ tạm”. Đó chính là cái văn hóa của chợ làng ngàn năm nay. Mà người Việt thì căn cốt vẫn luôn từ một cộng đồng làng: chặt và gần gũi; tự tại nhưng luôn có quy ước riêng.
Một điển hình tồn tại ở nhiều chợ truyền thống của người Việt mà khó ai có thể quên được chính là cái hàng hoa, hàng lá. Bao giờ cũng ở đầu chợ. Đấy chính là Việt. Hăm chín tết ra đầu chợ mua mớ lá mùi cũng là đầu chợ. Tất cả những thứ ấy hòa quện lại, tạo thành một không khí chợ với màu và mùi cụ thể mà nếu quy hoạch nó vào không gian một siêu thị với máy lạnh, nó sẽ biến mất hoàn toàn.
Đó là lý do vì sao chợ hoa Tết ở Hàng Lược (Hà Nội) hay ở Hồ Thị Kỷ (TP Hồ Chí Minh) vẫn luôn “được họp” với sự hỗ trợ lớn từ chính quyền dù cho sự tồn tại của chúng, về lý, là vi phạm các nghị định, quy định. Sự linh hoạt của chính quyền không chỉ đến từ chuyện “du di dịp Tết” mà còn đến từ sự thấu hiểu văn hóa truyền thống. Cái chợ của người Việt, ấy chính là truyền thống. Nét đẹp của chúng vĩnh viễn không thể nào bị thay thế bởi những tiện lợi hiện đại của các đại siêu thị.
Nhưng bên cạnh cái đẹp, chúng vẫn có những nét xấu thật sự. Chợ tạm bẩn, nhếch nhác, vi phạm hành lang giao thông, gây bất tiện cho lưu thông và thậm chí khiến ùn tắc, chưa kể đến vệ sinh an toàn. Tất cả những cái cổ hủ, lạc hậu đó có đáng bị khai tử hay không?
Tương tự với chợ tạm là hàng quán vỉa hè. Chúng cũng là văn hóa, thứ văn hóa đặc biệt thu hút khách du lịch và được xem là đặc trưng điển hình cực riêng biệt của các đô thị du lịch Việt Nam. Chúng mang lại doanh số khổng lồ. Chúng tạo công ăn việc làm cho vô vàn lao động. Chúng là hiện tại sẽ trở thành ký ức đẹp của bao nhiêu thế hệ thanh niên. Nhưng chúng có lạc hậu, cổ hủ hay không? Có. Nhếch nhác, bẩn thỉu, kém vệ sinh an toàn và đặc biệt, vi phạm hành lang an toàn giao thông cực rõ ràng. Những cổ hủ, lạc hậu đó có đáng bị khai tử không?
Chúng đáng bị khai tử. Nhưng chúng ta cần rạch ròi ở đây là cái gì đáng bị khai tử. Khai tử một cái chợ, một dãy phố kinh doanh vỉa hè là khai tử toàn bộ cả cái đẹp lẫn cái xấu trong khi cái ta cần chỉ là xóa sạch cái xấu và giữ lại vẻ đẹp, sức hút của văn hóa bản địa.
Và không chỉ có chợ, hàng quán vỉa hè mà còn trăm ngàn thứ khác cũng cần được cân nhắc rạch ròi trong hoạt động “xóa bỏ” ngõ hầu hướng tới một đời sống văn minh hơn. Xóa bỏ thế nào luôn cần những đánh giá thiệt hơn, khoa học, khôn ngoan và nhìn vào nhiều chiều lợi ích chứ không chỉ đơn thuần quyết dẹp là dẹp luôn không để lại dấu vết nào. Đặc biệt, những thứ đã sống trong lòng cộng đồng như một tinh thần gắn chặt, xuyên suốt, quyết liệt dẹp chỉ được một thời gian ngắn thôi và nó sẽ hồi sinh lại ngay khi mọi chuyện êm xuôi.
Khoảng 30 năm trước, chúng ta từng có Nghị định 36 kiên quyết xóa sạch nạn lấn chiếm lòng lề đường. 30 năm sau, tại sao chúng ta phải lặp lại một việc tưởng như phải được an bài rồi? Đó chính là câu hỏi. Văn hóa đã khiến nhiều thứ hồi sinh sau một thời gian im hơi. Và chúng ta vẫn luôn tâm niệm văn hóa dẫn đường. Vậy thì vấn đề không phải là dẹp như thế nào, mà phải là thiết kế sinh quyển mới cho những thứ tưởng như xưa cũ để chúng vẫn giữ được hồn cốt văn hoá mà không giữ cái thói lạc hậu, cổ hủ đi ngược lại sự phát triển văn minh.
Điều gì sẽ xảy ra nếu chính quyền địa phương quy hoạch các chợ truyền thống kiểu như chợ Hàng Bè, Chợ Cũ… theo hướng quản lý chúng thành các chợ phiên có quy định chặt chẽ và rõ ràng? Cụ thể, thiết lập chúng thành các chợ ngắn hạn (pop-up) thì sao? Đây là mô hình mà nhiều nước văn minh, tiên tiến đã làm từ nhiều thập niên, để giữ lại cái tinh thần chợ tạm từ lịch sử, nhưng ở trong khuôn khổ của một xã hội hiện đại hôm nay.
Ví dụ, nếu chợ được quy hoạch phân lô, chỉ họp chợ đúng 3 tiếng đồng hồ buổi sáng và đòi hỏi chính các hộ kinh doanh phải đảm bảo tất cả các quy định về phạm vi, an toàn, vệ sinh… đi kèm theo là các chế tài khắc nghiệt, liệu có ổn hơn việc dời nó qua một điểm khác (nơi không mang lại hiệu quả thương mại và đánh mất bản sắc văn hóa)? Mô hình chợ ngắn hạn này ở các nước phát triển thực sự rất hiệu quả, với việc ngay khi chợ đóng cửa, toàn bộ mặt bằng được trả lại sạch sẽ, gọn ghẽ như vốn có ban đầu, đủ mọi tiêu chuẩn của một đường phố thoáng đãng nhất của một đô thị hàng đầu. Hộ kinh doanh nào vi phạm, chế tài nặng nề nhất chính là việc họ sẽ không được cấp phép kinh doanh ở chợ ngắn hạn ấy trong một khoảng thời gian nhất định, thậm chí là vĩnh viễn. Đây chính là cách giao trách nhiệm cho chính người dân, những người đang tận hưởng sự tiện lợi và nét văn hóa của những thứ được xem là “cổ truyền”.
Tương tự là kinh doanh trên vỉa hè. Vỉa hè nhỏ thì cấm tuyệt đối nhưng vỉa hè rộng thì sao? Đây chính là bài toán dành cho quy hoạch, một bài toán không hề khó. Phạm vi sử dụng (thuê của chính quyền thành phố) tới đâu; bài trí như thế nào; số lượng bàn và ghế, sạp quầy… được phép trung bày…, tất cả đều phải theo đăng ký, theo quy hoạch tiêu chuẩn mà chính quyền đô thị đó đưa ra. Như vậy, tất cả mọi lợi ích lại được dung hòa, từ lợi ích của người dân kinh doanh, của ngành du lịch, của người tiêu dùng cho tới lợi ích của chính quyền. Trong khi đó, các đòi hỏi về tiêu chuẩn văn minh đô thị, an toàn giao thông lại vẫn được đảm bảo…
Nói chung, có những cái cũ, cái xưa không còn bất kỳ một giá trị nào trong đời sống hiện đại, việc nhất thiết phải xóa sạch nó cần phải làm. Nhưng nếu những cái xưa, cái cũ vẫn còn giá trị cả tinh thần, văn hóa lẫn thương mại, duy trì nó trong diện mạo mới đáng là việc cần làm hơn. Thiết kế sinh quyển mới cho chúng thật ra không đòi hỏi gì nhiều bởi thực tế, quản lý những việc như vậy không phức tạp quá mức. Cần là cần cái tâm, và sự suy xét mạch lạc, rạch ròi để dẫn tới những cân nhắc hiệu quả nhất trong việc tạo ra các đề án thật xứng tầm.
Hà Quang Minh

Nghị quyết 80: Khi văn hóa là "cái lõi"
Trước biến động thời cuộc