Trước biến động thời cuộc
LTS: Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo; những diễn biến bất thường về địa chính trị; các quyết định áp đặt thuế quan gây shock; giá cả nhiên liệu thay đổi đột biến dẫn tới biến động mạnh ở các thị trường v.v... và vv… Thế giới đang tiếp tục theo cách đó và tạo ra những vòng xoáy chóng mặt. Trước các biến động thời cuộc như thế, một cá nhân con người, một công ty, một ngành, thậm chí cả một quốc gia, cần phải đối diện chúng theo cách nào?
"Nảy số" trong thế giới bất định
Ngày 30/10/1926, Henry và Mabel Stimson bước xuống một chuyến tàu hơi nước ở Kyoto, Nhật Bản, và khởi động một chuỗi sự kiện mở đầu cho cái chết của 140.000 người ở một thành phố cách đó hơn 300 km.
1. Cặp đôi người Mỹ bắt đầu kỳ nghỉ ngắn của họ ở cố đô của Nhật Bản bằng cách đi bộ từ sân ga đến phòng của họ tại khách sạn Miyako gần đó. Mùa thu Kyoto rất thơ mộng. Lá phong đã chuyển sang màu đỏ thẫm, và cây bạch quả nở bung như một ngọn đuốc lớn màu vàng óng. Henry ghi lại hết, rồi kết luận rằng đó là một "ngày đẹp trời cho việc thăm thú" trong nhật ký của mình.
19 năm sau, ông đã trở thành Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ, sắp tham gia một ủy ban bí mật gồm các quân nhân và nhà khoa học chịu trách nhiệm quyết định cách sử dụng quả bom nguyên tử đầu tiên. Ủy ban Mục tiêu đồng ý rằng Kyoto phải bị phá hủy. Họ vẽ bản đồ ném bom chiến thuật và quyết định nhắm vào sân ga đường sắt của thành phố, ngay quanh góc từ khách sạn Miyako nơi gia đình Stimson đã ở năm 1926.
Stimson van nài Tổng thống Harry Truman không ném bom Kyoto, chỉ vì ký ức tươi đẹp hai thập niên trước. Các tướng lĩnh bắt đầu gọi Kyoto là "thành phố cưng" của Stimson. Cuối cùng, Truman nhượng bộ, loại Kyoto khỏi danh sách mục tiêu. Vào ngày 6/8/1945, Hiroshima trở thành mục tiêu thay thế.
Sự hoán đổi số phận kỳ lạ này là một trong những ví dụ kinh điển để chứng minh sự vô nghĩa của các phương trình hồi quy tuyến tính thường được dùng để dự báo các sự kiện/thảm hoạ: một chuyện nhỏ và có tính ngẫu nhiên như vậy lại có thể thay đổi hướng đi của một thảm họa, thì làm sao để chúng ta có thể xây dựng được một kịch bản thực sự đủ tin cậy để ứng phó với các đổi thay?
2.Trong nửa thập niên đã qua, thế giới chứng kiến những điều chưa từng xảy ra trong lịch sử nhân loại, như là dịch COVID-19, hay những biến động cực đoan của biến đổi khí hậu (nhiều công ty bảo hiểm ở Mỹ đã phá sản vì phải trả tiền cho các thảm họa liên quan đến biến đổi khí hậu).
Là một người "tập tành" kinh doanh trong hai năm qua, tôi cũng chứng kiến những biến động mà nhiều tiền bối đúc kết rằng bằng "20 năm cộng lại".
Trong quá trình vật lộn với công ty nhỏ của mình, tôi có hỏi một doanh nhân lớn (cỡ chủ tập đoàn) đã kinh qua những biến động kinh khủng nhất của thời đại chúng ta đang sống như là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008, rằng: Điều gì là quan trọng nhất để ứng phó với một dạng tương lai bất định vì quá nhiều biến số như hiện tại?
Anh nói rằng mình thật sự không biết, chỉ tự nghiệm rằng điều may mắn của mình và các cộng sự là luôn sẵn sàng "nảy số": tức là khi vấn đề phát sinh, thì lập tức tất cả sẽ cùng tập trung mọi nguồn lực để đưa ra giải pháp liên tục, thử và sai cho đến khi mọi thứ được giải quyết. Anh bảo rằng mọi người sẵn sàng làm việc này ngay cả khi chưa hề có kinh nghiệm hay thông tin gì về nó: người phụ trách tài chính có thể vắt óc nghĩ về khủng hoảng truyền thông, và một kỹ sư công nghệ cũng xắn tay vào việc bán hàng.
3.Trong cuốn sách nổi tiếng "Sự trỗi dậy của Phần còn lại" (The Rise of The Rest), giáo sư kinh tế người Mỹ Alice Amsden đã nghiên cứu cách một nhóm quốc gia phát triển muộn - bao gồm Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Mexico và một số nước khác, tiến hành công nghiệp hóa sau Thế chiến II. Những nước này, bà gọi là "The Rest" (Phần còn lại), thường bắt đầu bằng cách nhập khẩu hoặc bắt chước công nghệ từ các nước tiên tiến hơn, thay vì tự phát minh.
Họ xây dựng ngành sản xuất cơ bản bằng cách tận dụng tri thức vay mượn từ nước ngoài, tạo nhà máy hiện đại thường mà không có đổi mới độc quyền của riêng mình. Chiến lược này hiệu quả đến một mức độ nào đó, thúc đẩy tăng trưởng ấn tượng, nhưng chỉ đưa đất nước đến một nấc nào đó thôi, trước khi rơi vào bẫy thu nhập trung bình.
Nói cách khác, cái thang đưa bạn thoát nghèo, như là nhà máy lắp ráp, máy móc nước ngoài, công nghệ sẵn có, sẽ không tự nó đưa bạn vào hàng ngũ tinh hoa, cũng như khiến bạn bị đào thải nhanh chóng hơn trước các đổi thay liên tục.
Amsden nhấn mạnh vấn đề tài sản dựa trên tri thức - kỹ năng, chuyên môn và thiết kế giúp doanh nghiệp sản xuất sản phẩm phức tạp hiệu quả. Để bảo vệ lợi thế cạnh tranh, các tập đoàn đa quốc gia canh giữ những tài sản này rất gắt gao.
Phần lớn tri thức quý giá này cũng là tri thức ngầm, bao hàm cả văn hóa và sự tận hiến của con người trong đó, khó mã hóa hoàn toàn hoặc chuyển giao trong sách hướng dẫn hay những khoá đào tạo đơn thuần.
Vì vậy ngay cả khi doanh nghiệp nước ngoài thiết lập hoạt động ở nước đang phát triển, một số tri thức quý giá nhất - các kỹ năng thiết kế then chốt, bí quyết kỹ thuật và thực hành quản lý - thường vẫn bị nhốt trong khu vực riêng của công ty nước ngoài.
Kết quả là nó tạo ra một trần kính phát triển cho các nước muốn bứt phá: một quốc gia có thể có nhà máy hiện đại nhưng vẫn không có khả năng tạo ra Nokia hoặc Toyota của riêng mình.
Năng lực "nảy số" có lẽ là một cách gọi thô của loại tài sản này: nội lực của tổ chức sinh ra từ văn hóa, nghị lực và khả năng coi giải quyết vấn đề liên tục là một điều đương nhiên, coi khủng hoảng không chỉ là cái cần phải tránh, mà thậm chí là một bước ngoặt, cơ hội để thay đổi và chuyển mình.
Khi nào chúng ta còn tư duy phải ứng phó, thay vì nhìn nhận khủng hoảng như một bước ngoặt, khi đó chúng ta vẫn còn phải đau đáu về bài toán hóa rồng trong một kỷ nguyên đầy sự bất định.
Phạm An
Rất cần nghiên cứu chiến lược sâu và rộng
Ngày 4/8/1971, tàu chiến của quân đội Pháp cập cảng New York với những khoang chứa rỗng. Nhiệm vụ của nó rất đơn giản: Pháp đòi lại toàn bộ số vàng họ gửi ở kho dự trữ của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ. Một tuần sau, Anh gửi yêu cầu Mỹ đổi 3 tỷ USD sang vàng (2.665 tấn) để chuyển về cất ở London. Sự kiện ấy tạo ra cái gọi là "cú shock Nixon" sau này nhưng ở thời điểm nó diễn ra, gần như tất cả chỉ xem đó như một thông tin cùng lắm là có khả năng gây biến động thị trường tài chính một chốc lát.
Nhưng thực tế, chính từ sự kiện đó, một chuỗi hệ quả đã xảy ra sau này. Đầu tiên là sự sụp đổ của Bretton Woods, một hệ thống quy ước USD là đồng tiền dự trữ duy nhất được đổi ra vàng với mức giá 35 USD/ounce và các đồng tiền khác sẽ neo giá trị của mình vào đồng USD. Bretton Woods sụp đổ, kéo theo sự ra đời của tiền pháp định (fiat money) và chỉ 3 năm sau, năm 1974, khi một thỏa thuận giữa Hoa Kỳ và Arab Saudi được ký kết, petrodollar ra đời. Và cho tới tận hôm nay, hệ quả vẫn chưa dừng lại khi xung đột vũ trang xảy ra ở Trung Đông, với cái đích mà Hoa Kỳ nhắm tới là Iran. Ở chiều ngược lại, Iran và những đồng minh của họ cũng nhắm tới một mục tiêu lớn: phá vỡ sự thống trị của đồng USD thông qua thỏa thuận petrodollar hơn nửa thế kỷ trước.
52 năm tồn tại petrodollar là 52 năm có quá nhiều biến động lớn toàn cầu mà trong đó, rất nhiều quốc gia thụ động. Có thể nói thẳng, tất cả các quốc gia nhỏ đều thụ động. Sự thụ động không bắt nguồn từ việc thiếu thông tin (như chiến tranh khi nào thì xảy ra, xảy ra ở đâu và khi nào thì kết thúc) mà phần lớn đến từ sự thiếu phân tích và đánh giá một cách đầy đủ nhất, có chiến lược nhất về cái cách mà thế giới đang được vận hành.
Hoa Kỳ của thế kỷ 21 đã chuyển đổi từ tư duy "Búa tạ quân sự" sang tư duy "Dao phẫu thuật tài chính" dựa vào sức mạnh tuyệt đối của đồng USD, đồng tiền được xem như là vũ khí toàn cầu hóa sự thống trị tài chính của Hoa Kỳ và giúp họ tạo nên các "cơ sở hạ tầng vô hình" để đặt vị thế Hoa Kỳ như người gác cổng các hệ thống thanh toán toàn cầu. Chính những cuộc chiến tranh kinh tế đó, có thể kéo theo hệ lụy là các chiến dịch quân sự (như ở Iraq, ở Iran) đã khiến toàn cầu rung lắc liên tục do sự biến động mạnh mẽ, bất ngờ, không đoán trước của thị trường tài chính và sự đứt gãy bất thần của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Trong suốt hơn 20 năm qua, Hoa Kỳ đã duy trì một cơ quan có tên Office of Terrorism and Financial Intelligence (TFI) trực thuộc Bộ Tài chính. Đây chính là một cơ quan chiến lược chuyên đưa ra các đề xuất trừng phạt kinh tế đối với những quốc gia địch thủ của Hoa Kỳ. Và mỗi hành động của cơ quan này, tất nhiên, luôn có khả năng tạo ra những rung lắc lớn mang tầm quốc tế.
Trong một thế giới đầy biến động, các quốc gia, các ngành, các công ty và ngay cả các cá nhân sẽ phải đối diện như thế nào?
Sự ổn định luôn là điều mà bất kỳ cá nhân hay tập thể nào đều mong muốn bởi tính ổn định sẽ luôn là nền tảng cho phát triển. Song, không một quốc gia nào có thể tồn tại tách biệt khỏi thế giới cũng như không một cá nhân nào có thể tồn tại tách biệt ra khỏi một cộng đồng. Chính vì thế, rất khó kiếm tìm sự ổn định khi mà xung quanh mình bất ổn luôn bao vây.
Chính trong bối cảnh như vậy, việc phán đoán các kịch bản có thể xảy ra trong tương lai gần và xa là đòi hỏi tiên quyết nhất để mỗi quốc gia, mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp và cả cá nhân có thể "sống chung với địa chấn" mà ít bị tác động tiêu cực nhất. Ở cấp độ quốc gia, nhất thiết cần phải có một cơ quan nghiên cứu chiến lược đủ mạnh, đủ tầm để vạch ra các kịch bản tiềm năng, đồng thời tư vấn các giải pháp tương ứng cho từng kịch bản tiềm năng đó.
Đơn cử như đợt thương chiến gần nhất giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, chúng ta đều nhận ra rằng tất cả các hàng rào thuế quan được Hoa Kỳ dựng lên không phải nhằm vào toàn bộ các đối tác thương mại của họ. Cách họ "chơi cờ" rất giống với cuộc chiến kinh tế sơ khai đầu tiên của lịch sử loài người, khi Athens trừng phạt các thành bang nhỏ trong thương mại theo lệnh của Pericles và khiến các thành bang ấy kiệt quệ dần.
Thực chất, Athens hướng tới đối thủ chính là Sparta và các trừng phạt thương mại đối với các thành bang nhỏ chỉ nhằm mục đích đe dọa và cho thấy "chơi thân với Sparta thì có hại như thế nào". Và nếu chúng ta nhìn vào ứng xử của từng quốc gia nhỏ trong đợt trừng phạt thuế quan cách đây 1 năm của chính quyền Tổng thống Donald Trump, chúng ta hoàn toàn có thể phân tích được quốc gia nào đã có chiến lược được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn.
Cuộc khủng hoảng ở Iran hiện nay kéo theo rất nhiều hệ lụy. Một câu chuyện đơn giản thôi, chỉ một ly nước giải khát cho học sinh ở cổng một trường phổ thông tại TP Hồ Chí Minh đã tăng thêm 2.000 - 5.000 đồng. Giá nhiên liệu tăng, giá phân bón tăng, tất cả đều tạo chiều kích để giá hàng hóa phải tăng. Nhưng nếu chúng ta chỉ nhìn vào hệ lụy trước mắt và tìm cách xử lý nó, chúng ta mới chỉ là người đi "vá áo". Hệ lụy của những sự kiện như thế còn sâu sắc hơn nhiều, và kéo dài lâu hơn nữa. Chính vì thế, lập ra giả định về tất cả các kịch bản có thể xảy ra trong tương lai, đồng thời tìm đối sách phù hợp cho từng kịch bản giả định phải là việc được ưu tiên hàng đầu, với những con người chuyên gia chất lượng hàng đầu.
Bà con miền Tây Nam Bộ có một câu nói rất hay là "sống chung với lũ". Sở dĩ, họ có thể sống chung với lũ là bởi họ đã có những nghiên cứu đủ sâu và rộng về biến động của mùa lũ. Họ không nhìn vào việc xử lý các việc trước mắt khi lũ lên mà thay vào đó, họ nhìn sâu hơn vào chuyện sẽ khai thác được gì từ chính con lũ đó, sẽ tiếp tục trở lại như thế nào sau khi lũ đi qua.
28/1/1941, Bác Hồ về nước để chỉ đạo tình hình cách mạng trong nước. Tại sao lại là thời điểm đó mà không phải là sớm hơn, hay muộn hơn? Đó chính là quyết định được đút rút từ nghiên cứu tình hình thế giới, với các hình dung về các kịch bản có thể xảy ra, để rồi từ đó cách mạng non trẻ sẽ có những sách lược đối ứng phù hợp. Bài học lớn mà Bác Hồ để lại cho chúng ta hôm nay chính là bài học về nghiên cứu chiến lược và bài học đó không chỉ áp dụng cho quốc gia mà còn có thể được áp dụng cho từng ngành, từng doanh nghiệp và thậm chí là cá nhân mỗi người trong xã hội Việt Nam hôm nay.
Hà Quang Minh
Chạy
Cà phê đã nguội cả rồi.
Sáng tới cơ quan, việc đầu tiên là tôi đã pha nó bằng chiếc máy "siêu sale" trên TikTok, trước khi mở màn hình. Và bây giờ đã hai giờ chiều. Ly cafe vẫn ở đó như một bằng chứng trung thực về một buổi sáng đã trôi qua mà không ai để ý. Ngoài cửa sổ, đường Hồ Tùng Mậu đang ùn tắc theo cái cách nó vẫn ùn tắc từ 20 năm nay. Chẳng khác gì, ngoài việc có dàn camera AI treo trên cột đèn lạnh lẽo nhìn xuống. Những cái camera ấy không mỏi mắt. Không cần cà phê. Không nguội.
Tôi nhớ tới tin nhắn đêm qua của Trầm Hương, em gái đồng hương Thái Nguyên, ba mươi ba tuổi, phụ trách mảng kế hoạch tài chính cho một công ty logistic ở Cầu Giấy: "Em vừa dùng cái con AI nó làm xong cái báo cáo quý bình thường em phải mất ngủ cả tuần. Giờ nó làm trong bốn mươi phút. Em ngồi nhìn nó chạy mà không biết nên vui hay nên khóc". Tôi đã không trả lời Hương, không phải cố phớt lờ mà vì có quá nhiều thứ để nói mà không biết bắt đầu từ đâu. Tôi đặt điện thoại xuống, nhìn trần nhà, nghe tiếng trẻ con hàng xóm khóc vọng qua tường thạch cao mỏng.
Tường thạch cao. Chung cư mini. Giá thuê 10,5 triệu/ tháng cho 27m2, kèm theo cái mùi ẩm mốc mà không bộ lọc không khí nào xử lý được. Đó là cuộc sống của một bộ phận không nhỏ dân công sở Hà Nội và Sài Gòn - hai đô thị lớn nhất nước vào năm 2026. Không đói rách túng quẫn, vẫn áo đẹp nước hoa thơm, nhưng không bao giờ có thể thanh thản thở mỗi ngày.
Mỗi buổi sáng, người ở phố lớn luôn bắt đầu bằng một cuộc đấu tâm lý nhỏ, giữa cái giường và cái điện thoại. Điện thoại thắng. Luôn thắng. Trước khi chân chạm sàn, người ta đã mở ứng dụng, đã đọc email, đã thấy cái thông báo từ sếp gửi lúc 7 giờ sáng kèm theo một file mà trước đây cả team làm mất một tuần, giờ chỉ cần "anh đã dùng Copilot xử lý cấu trúc rồi, em xem lại và bổ sung insight nhé". Bổ sung insight. Cái từ đó giờ đây nặng hơn cả một tập báo cáo. Nó có nghĩa là, máy đã làm phần xương, em hãy thổi hồn vào, hãy cá nhân hóa, hãy tạo cảm giác bản địa cho một tài liệu trung tính. Nhưng thổi bằng gì nhỉ? Khi mà đêm qua, em vừa trải qua hai giờ kiểm tra xem AI có bịa số liệu không, rồi tiếp tục thêm một khóa học trực tuyến về "prompt engineering nâng cao" mà em đăng ký từ tháng trước vẫn chưa học đến bài thứ ba?
Sài Gòn thì khác một chút. Không phải khác theo nghĩa nhẹ nhàng hơn, mà khác theo nghĩa nhanh hơn, dữ dội hơn, như mọi thứ ở Sài Gòn đều nhanh và dữ dội hơn. Chương trình phổ cập trí tuệ nhân tạo cho hàng triệu người dân thành phố được triển khai với cái nhiệt huyết mà người ta thường dành cho các chiến dịch lớn.
Văn phòng mở app học AI miễn phí của thành phố. Quán cà phê máy lạnh dán biểu ngữ "Không gian làm việc tích hợp AI". Người ta nói chuyện về các công cụ trí tuệ nhân tạo như nói chuyện về thời tiết, liên tục, khắp nơi, vừa hồi hộp vừa lo lắng theo cái cách người ta vừa hồi hộp vừa lo lắng khi nghe dự báo bão. Bão đến rồi, đang ở đây rồi, câu hỏi chỉ là nhà mình có chịu được hay không mà thôi.
Và bão không chừa ai. Một người quen của tôi, tạm gọi là Thần Đằng, 31 tuổi, làm marketing cho một tập đoàn bán lẻ ở quận 7 kể, cuối 2025 team marketing của anh đã bị cắt gọn hơn cách người ta đi giũa móng tay, từ 20 nhân viên xuống còn 6. Công ty có lãi cao hơn năm trước chứ không phải sắp phá sản. Chính vì lãi cao hơn nên các sếp mới tính được rằng 6 người dùng công cụ AI thay thế được 20 người không dùng, và phần dư thừa kia là chi phí không cần thiết.
Thần Đằng may mắn nằm trong số 6 người còn lại. Nhưng may mắn ở đây được hiểu là anh sẽ phải làm gần gấp đôi việc so với trước, còn lương cũng tăng, nhưng chỉ 10%. May mắn nhưng giống đeo vòng kim cô trên đầu, với cảm giác thường trực rằng nếu không chạy đủ nhanh, cái danh sách 6 người kia có thể co xuống còn có 4.
Một tập đoàn công nghệ và phần mềm hàng đầu Việt Nam vừa ra Tết đã thông báo tái cơ cấu, nhân sự các thị trường nước ngoài, đặc biệt Nhật Bản sẽ ổn định, còn hơn 16.000 kỹ sư phần mềm trong nước sẽ được đặt lên bàn cân. Có thể 4/5 trong số đó sẽ cầm sổ bảo hiểm thất nghiệp trong quý tới.
Điều này làm tôi nhớ tới phim "Up stream" của Trung Quốc, kỹ sư công nghệ từng được lăng xê như hình mẫu thịnh vượng của quốc gia, giờ bị thay thế tuổi trung niên, phải lao vào cuộc mưu sinh bằng nghề giao đồ ăn công nghệ, giành giật sự sống hàng ngày giữa đời cơm áo. Nó không chỉ là phim nữa, nó là hiện thực, và đang tới rồi. Ngay tại Việt Nam.
Trong các cuộc họp hay đào tạo đội nhóm của công ty, các sếp hay nói câu này, với cái giọng điệu vừa khích lệ vừa đe dọa theo một tỉ lệ tinh vi khó xác định: "AI không thay thế bạn, nhưng người biết dùng AI sẽ thay thế người không dùng". Câu ấy đúng.
Và cũng tàn nhẫn theo một cách rất lịch sự. Nó đặt toàn bộ gánh nặng của sự thay đổi lên đôi vai từng cá nhân, như thể đây là vấn đề của sự nỗ lực cá nhân chứ không phải của một làn sóng mà không ai chọn tham gia. Người ta nghe xong rồi gật đầu, về nhà mở laptop học thêm, và tự hỏi không biết mình đang học để sống tốt hơn hay học để chậm bị đào thải hơn, hai điều đó nghe giống nhau nhưng về bản chất khác nhau rất xa.
Tôi hay nghĩ đến những buổi chiều tắc đường mà trước đây người ta gọi là khổ nạn. Giờ ngồi trên xe máy trong dòng xe bất tận trên đường Lê Văn Lương hay đường Kim Mã, người ta cúi xuống điện thoại không phải để lướt mạng xã hội nữa mà để check email, để trả lời hệ thống, để xem lại cái kết quả mà AI vừa tạo ra có chỗ nào sai không. Ranh giới giữa giờ làm việc và giờ nghỉ đã mờ dần từ lâu, nhưng bây giờ nó gần như biến mất hoàn toàn. Người ta làm việc trong xe buýt, trong trong bếp khi đợi cơm chín. Làm việc lúc nửa đêm khi bé khóc và không ngủ lại được. Năng suất tăng, đúng là tăng thật, nhưng tăng theo kiểu cái máy vắt chanh tăng năng suất, quả chanh cho ra nhiều nước hơn, nhưng cũng kiệt quệ đến tận cùng.
Cái nghịch lý đáng buồn nhất của năm 2026 không phải là người ta không có tiền. Là người ta có tiền hơn một chút, nhưng lại ít thở hơn rất nhiều. Lương chuẩn bị tăng, nhưng tiền thuê nhà đã tăng, bát bún riêu cũng tăng, cái giỏ hàng siêu thị xách nặng hơn, nhưng nặng bill nhẹ đồ. Một gia đình trẻ ở Hà Nội hay Sài Gòn, hai vợ chồng đều đi làm văn phòng, một đứa con nhỏ, sẽ thấy cuối tháng các con số trên tài khoản và các con số trong cuộc sống không còn cộng hưởng theo cách chúng từng cộng hưởng. Người ta đã từng tính, làm vài năm dành dụm mua nhà. Giờ không ai tính nữa, vì chẳng ai còn tính cách leo lên trời khi mọi con đường đều chỉ người ta đi xuống.
Thế hệ 8X và 9X, những người đang ở tuổi 30 đến đầu 40, cái tuổi mà đáng ra là thời điểm vững chắc nhất trong sự nghiệp, lại là thế hệ cảm thấy bất an nhất. Gen Z hào hứng với công nghệ theo cái cách người trẻ hào hứng với mọi thứ mới; người lớn tuổi hơn đã qua giai đoạn phải chứng minh bản thân. Nhưng người ở giữa, 35 tuổi, kinh nghiệm đủ dùng nhưng chưa đủ để trở thành không thể thay thế, đang nuôi con nhỏ và trả tiền thuê nhà.
Người ở giữa đó đang đứng trên một mảnh đất mà họ cảm thấy đang dịch chuyển dưới chân, chầm chậm nhưng không ngừng. Nhiều đêm, sau khi con ngủ và khu chung cư mini trở lại vẻ tĩnh lặng trong chật chội, người ta nằm nhìn trần nhà và nghĩ những câu hỏi không có hình dạng rõ ràng. Không hẳn là lo lắng hay sợ hãi. Chỉ là cái cảm giác mơ hồ rằng mình đang chạy, đã chạy từ sáng đến đêm, nhưng không biết đích ở đâu. Liệu có đích không, hay chỉ là chạy để không bị tụt lại phía sau, mà phía sau là gì cũng không ai dám hình dung rõ.
Ngoài đường, những cái camera AI vẫn đang nhìn xuống. Thứ ấy chả bao giờ mỏi hay nghĩ ngợi. Và tuyệt đối chẳng cần biết đích ở đâu.
Cốc cà phê trên bàn tôi vẫn nguội.

Những góc nhìn mới mẻ mang hơi thở thời cuộc
Tâm thế thời cuộc