Nghị quyết 80: Khi văn hóa là "cái lõi"

Thứ Ba, 10/03/2026, 10:16

LTS: Ngày 7/1/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW "Về phát triển văn hóa Việt Nam" đã xác lập rất rõ "Văn hóa là sức mạnh nội sinh" và "con người phải là trung tâm chủ thể". Từ đó, nếu nhìn văn hóa như "cái lõi" thì cái lõi ấy nằm trong từng con người. Tất nhiên, mỗi con người trong xã hội hiện đại Việt Nam hôm nay rất cần những sách lược, kế hoạch cụ thể để hỗ trợ họ phát huy cái lõi ấy trong mình.

Lựa chọn tiềm thức

Tết vừa rồi, gia đình tôi trăn trở một chuyện: cô cháu gái vừa tốt nghiệp thủ khoa đại học quyết sang Hàn Quốc du học, dù có nhiều lựa chọn tốt hơn, như đi châu Âu chẳng hạn.

Anh_bai_Pham_An-1773112605602.jpg
Nghị quyết 80 - NQ/TW đặt ra mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP

Ở châu Âu, gia đình có người nhà có thể lo chỗ ăn ở cũng như hỗ trợ về kinh nghiệm sống. Nếu đi Hàn, cháu sẽ phải tự xoay xở, từ việc nỗ lực xin học bổng, học tiếng thành thạo... nói chung là có rất nhiều điều chưa biết.

Nhưng cháu vẫn quyết tâm đi, với một niềm tin lớn duy nhất, và như thể đã tồn tại trong tiềm thức từ rất lâu: cháu yêu văn hóa Hàn Quốc, muốn được trải nghiệm nền văn hóa đó một cách trực tiếp. Và cháu tôi chỉ là một trong số hơn 100.000 du học sinh Việt Nam đang ở Hàn Quốc, chiếm 1/3 tổng số và vượt Trung Quốc để trở thành nhóm sinh viên quốc tế đông nhất ở xứ sở Kim chi.

Theo một khảo sát từ Bộ Tư pháp Hàn Quốc, 79% số du học sinh này nói rằng sẽ ở lại sau khi tốt nghiệp, hoặc học lên cao hơn hoặc đi làm. Một sự cam kết tương lai đáng kinh ngạc.

Khoảng một thập niên trước, những người trẻ đi đón thần tượng Hàn ở sân bay đã bị một bộ phận dư luận dè bỉu, chê bôi… Truyền thông từ chối nhìn nhận rằng làn sóng ấy có thể ảnh hưởng sâu sắc đến mức độ nào, cho đến khi mọi thứ đã trôi đi rất xa 10 năm sau: nhiều người trẻ bị ảnh hưởng bởi Hàn lưu (hallyu) đã gửi gắm tương lai của họ nơi xứ người. Một bằng chứng không thể thuyết phục hơn về quyền lực mềm của văn hóa.

Trong từng ấy thời gian, nghịch lý là chúng ta hầu như không mất cảnh giác: tôi đếm không sót những bài báo, phóng sự lên án xu hướng thần tượng "lệch lạc" (một từ rất hay được dùng bấy giờ) mỗi khi có sao Hàn nào đến Việt Nam.

Nhưng rốt cục thì trong một cuộc chiến chống lại ảnh hưởng văn hóa, sự cương mãnh và tập trung ấy không giúp ích gì nhiều. Việc nghe một ai đó bảo thứ này "lai căng" không làm con người bớt quyết tâm tiêu thụ một sản phẩm văn hóa. G-Dragon và BlackPink vẫn tung hoành như chỗ không người, làm mọi người khóc và cười theo họ. Chính các thần tượng trẻ Việt Nam cũng dần trở thành một bản sao đáng ngạc nhiên của các ngôi sao K-Pop, thậm chí đa số chỉ là những ảo ảnh phái sinh nghèo nàn và mang tính bề ngoài.

Nghị quyết số 80-NQ/TW khẳng định rằng văn hóa là "động lực nội sinh", gắn với mọi lĩnh vực và tạo ra sức mạnh mềm. Văn kiện quan trọng này cho thấy góc nhìn về việc xoay trục ảnh hưởng văn hóa đã thay đổi: chúng ta không thể chỉ mẫn cán trong việc lên án, bài trừ. Chúng ta phải phát triển văn hóa từ nội lực của chính mình, đủ sức đề kháng để chống lại những ảnh hưởng từ các nền văn hóa khác và dẫn dắt dân tộc trong kỷ nguyên mới.

Những con số rất cụ thể đã xuất hiện trong Nghị quyết: số hóa 100% di sản quốc gia, 100% học sinh tiếp cận nghệ thuật/di sản, chi ngân sách tối thiểu 2% cho văn hóa, công nghiệp văn hóa góp 7% GDP, hình thành 5-10 thương hiệu quốc gia, thêm 1-3 trung tâm văn hóa ở nước ngoài, thêm 5 di sản UNESCO. Xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp, tập đoàn văn hóa quốc tế...

Đấy không chỉ là một liệu pháp tinh thần và bản sắc, mà còn là một công cụ kinh tế: Hallyu hiện đóng góp hàng chục tỷ USD vào GDP Hàn Quốc mỗi năm. Riêng BTS và BlackPink đã bán tổng cộng 238 triệu đĩa nhạc trên toàn cầu, thúc đẩy xuất khẩu mỹ phẩm, thời trang và công nghệ. Các tập đoàn lớn của Hàn Quốc đã sử dụng hình ảnh các ngôi sao đất nước họ để kích thích chủ nghĩa tiêu dùng ở bất kỳ đâu họ đặt chân đến.

Một thập kỷ trước, nếu nhìn nhận làn sóng này dưới góc độ kinh tế, chúng ta có lẽ đã hiểu rõ hơn tiềm năng khủng khiếp của văn hóa, thay vì tấn công vào các khía cạnh mang tính quan điểm, hay và dở của nó. Sự lên án và bài trừ cực đoan có thể đã mang lại những chiến thắng ảo ảnh, trong một lĩnh vực mà phải nhiều năm sau, người ta mới nhận ra được ai là người chiến thắng cuối cùng.

Khi nhận ra rằng mọi lời khuyên cô cháu hãy ở lại, hoặc tìm một quốc gia khác thuận lợi hơn để du học, chỉ là vô ích, tôi không tránh khỏi cảm giác nuối tiếc. Nhưng đằng sau cảm xúc ấy là hy vọng, về chặng đường sắp tới. Một khi chúng ta đã xác định rõ đâu là ưu tiên quan trọng nhất, thêm một thập niên nữa thôi, trái ngọt sẽ tới, với thế hệ tiếp theo. Một "cuộc chiến" diễn ra âm thầm, nhưng không kém phần quyết liệt, trong tiềm thức.

Phạm An

Văn hóa - chiếc phanh của quốc gia

Tăng trưởng là mục tiêu, nhưng cần phải giữ được sự ổn định bền vững. Giữa hai cực ấy, văn hóa phải trở thành cơ chế tự bảo vệ của xã hội. Khi tốc độ vượt khỏi giá trị, rủi ro không chỉ thuộc về kinh tế, mà thuộc về an ninh phát triển, có thể dẫn đến những hệ lụy cho nhiều thế hệ.

Nghị quyết 80: Khi văn hóa là
Năm 2025, nhiều chương trình nghệ thuật chính luận đã thu hút sự quan tâm của khán giả trẻ

1. Mùi bùn sau lũ tanh lắm. Năm 2006, tôi đứng giữa ngôi làng ven biển Quảng Nam, ngay khi "con voi dữ" - bão Xangsanse vừa đi qua. Nước mới rút đi, những mảnh tôn làm nhà mắc đầy trên những ngọn tre, xác gia súc nổi khắp chốn. Khi ấy, chính quyền còn chưa kịp tới, các kế hoạch triển khai của nhà nước còn đang cần trình duyệt, chỉ còn dân làng tụ lại với nhau.

Ông trưởng thôn gõ cái nồi méo thay trống, phân công người cào bùn, thau rửa từng nền nhà, đàn bà nấu cháo, đàn ông đi tìm vật liệu còn lại để vá lại từng mái nhà teo tóp. Lúc đó không ai nói tới tiền bạc hay quyền lợi, ai thấy việc cũng đều xắn tay làm, lúc đó là cuộc hồi phục vá víu sau thiên tai, chứ không ai nghĩ nó là "cuộc tái thiết". Tôi chỉ kịp ghi lại những hình ảnh đó lên báo.

Mãi sau này tôi mới nhận ra, thứ người dân cần lúc đó, thứ cứu họ sau bão không phải là những thùng mì tôm hay vài ký gạo, mà là tình làng nghĩa xóm, là sự tương thân tương ái. Thứ ấy vô hình, nhưng bền lâu. Khi đọc Nghị quyết 80 - NQ/TW, tôi thấy có một câu rất trọng tâm, văn hóa là trụ cột và là hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững. Tôi nghĩ ngay tới cái làng năm ấy. Không có hệ điều tiết đó, họ đã vỡ trận. Nhìn rộng ra nhiều chuyện, nếu phát triển mà thiếu văn hóa thì như xe tải đổ đèo, ga vẫn gào mà phanh mòn từ lâu.

2. Năm 2008, khi ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh người ta bắt đầu quen với chuyện mở tài khoản chứng khoán, theo dõi bảng điện nhấp nháy như xem dự báo thời tiết, thì bên kia bán cầu xảy ra một chuyện cả thế giới giật mình. Ngân hàng Mỹ Lehman Brothers tuyên bố phá sản. Một "ông lớn" của giới đầu tư tài chính sụp đổ, hàng trăm tỷ USD bốc hơi và sau một đêm, nhiều người bỗng kiết xác. 

Phố Wall khi ấy vẫn được coi là biểu tượng của sự thông minh và giàu có, nhưng phía sau hóa ra là một cuộc chạy đua kiếm lời quá mức. Người ta cho vay dễ dãi, đầu tư mạo hiểm, tin rằng giá nhà và giá cổ phiếu sẽ chỉ có tăng. Lợi nhuận được khuếch đại trăm lần, còn rủi ro được giấu đi thật kỹ. Đến lúc bong bóng vỡ, hậu quả không dừng ở nước Mỹ.

Ngân hàng phá sản, doanh nghiệp thiếu vốn, hàng triệu người mất việc. Khủng hoảng lan ra khắp thế giới. Việt Nam không đứng ngoài. Xuất khẩu giảm, doanh nghiệp khó khăn, nhiều dự án phải dừng lại. Rốt cuộc, câu chuyện không chỉ là chuyện tiền. Nó là bài học về một thứ văn hóa kinh doanh đặt lợi nhuận lên trước luật lệ và sự thận trọng. Khi lòng tham đi nhanh hơn trách nhiệm, cái giá phải trả thường khá đắt.

Một câu chuyện khác. Nhật Bản, một "old money" của thế giới. Năm 2025, GDP bình quân đầu người hơn 34.000 USD. Trong tâm thức người Việt, Nhật Bản luôn hiện hữu là một đất nước sạch sẽ văn minh, những con phố sạch tinh, tàu điện chuẩn xác từng phút, thực phẩm tiêu chuẩn an toàn cao. Một xã hội kỷ luật, hiệu quả và giàu có. Nhưng phía sau những con số ấy là một thực tế khác. Người trên 65 tuổi chiếm xấp xỉ 30% dân số. Số trẻ sinh ra mỗi năm xuống mức thấp kỷ lục, năm 2025 chỉ khoảng 700.000 trẻ em chào đời. Lực lượng lao động thu hẹp dần, trong khi gánh nặng an sinh tăng lên."Hikikomori", những người trẻ nhốt mình trong phòng, ước tính hơn 1 triệu người.

Nhà cửa vẫn sáng đèn, nhưng nhiều gia đình chỉ còn một người già. Có khi không còn tiếng trẻ con trong nhiều khu phố. Nhật Bản cho thấy một nghịch lý, kinh tế vẫn mạnh, hệ thống vẫn vận hành trơn tru, nhưng cấu trúc gia đình và quan hệ xã hội đang mỏng đi rõ rệt. Tăng trưởng không tự động bảo đảm sự gắn kết. Và đôi khi, những khoảng trống ấy không hiện lên trong bất kỳ chỉ số GDP nào.

Còn Hàn Quốc thì sao? Netflix đang chiếu series dài tập "Undercover Miss Hong" nói về cuộc khủng hoảng tài chính cuối thập niên 1990, khi khủng hoảng tài chính châu Á ập đến, Hàn Quốc phải vay IMF để tránh sụp đổ. Thực tế, năm 1998, người dân Hàn mang nhẫn cưới, dây chuyền, đồ gia bảo đi hiến để nhà nước trả nợ. Một cú sốc xã hội, buộc họ nhìn lại mô hình phát triển của mình.

Từ đó, Hàn Quốc không chỉ tái cấu trúc ngân hàng hay công nghiệp nặng, mà coi văn hóa là một ngành kinh tế chiến lược, với việc nhà nước tài trợ bài bản cho giáo dục nghệ thuật, xây dựng hệ thống đào tạo thần tượng, biên kịch, đạo diễn. Điện ảnh nội địa được bảo vệ bằng "quota" chiếu rạp, bảo đảm phim Hàn có chỗ đứng ngay trên sân nhà. Nội dung truyền hình, âm nhạc, game, truyện tranh được hỗ trợ xuất khẩu như một chiến lược quốc gia. Kết quả đến sau hơn hai thập niên, nhóm nhạc BTS đứng đầu Billboard, phim "Ký sinh trùng" giành Oscar và "Trò chơi con mực" thống lĩnh mọi giải thưởng và tạo cơn sốt toàn cầu nhờ Netflix. Năm 2023, công nghiệp nội dung mang về hơn 12 tỷ USD xuất khẩu và 2025 khoảng trên 15 tỷ USD. Đó là hệ quả của một quyết định dài hơi, giữ bản sắc, chuẩn hóa, rồi thương mại hóa trên thị trường toàn cầu.

Người Hàn hiểu rằng văn hóa không phải phần phụ của kinh tế, mà là động cơ tăng trưởng nếu được đầu tư nghiêm túc và quản trị như một ngành công nghiệp. Vì thế, khi Nghị quyết 80 - NQ/TW đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% vào năm 2045, đó không phải là con số để làm đẹp báo cáo. Nó thể hiện một thay đổi trong tư duy, văn hóa không đứng bên lề phát triển, mà đi thẳng vào cấu trúc tăng trưởng. Nếu làm tới nơi tới chốn, nó vừa tạo ra giá trị kinh tế, vừa củng cố bản sắc và sức mạnh mềm quốc gia.

Ba câu chuyện với ba lối rẽ, nhưng có điểm khác biệt, đó chính là "cái phanh của quốc gia" - văn hóa.

3. Tôi từng  trò chuyện với một người bạn làm marketing ở Singapore. Anh hỏi: "Việt Nam các ông có gì riêng?". Tôi kể về phở, về trà đá vỉa hè, về tiếng rao "Ai bánh khúc đây…" giữa đêm đông Hà Nội. Anh bảo: "Thế sao không kể những thứ đó trong quảng cáo quốc gia?". Ừ nhỉ!

Tôi nhớ, cách đây khoảng 20 năm, khi nhiều doanh nghiệp "tay to" muốn "thôn tính" Hội An, tổ chức hẳn một cuộc tọa đàm để bàn về hướng phát triển thị xã cổ kính này. Một trong những ý kiến được nhiều người ủng hộ là đập nhà cổ xây khách sạn cao tầng cho nhanh giàu. Một ông lão chủ nhà gỗ hơn trăm tuổi nói, bán thì giàu liền, nhưng con cháu sau này biết mình từ đâu ra?

Thật may, chính quyền Hội An khi ấy vẫn kiên quyết giữ lại được mái ngói rêu phong, giữ luôn lượng khách gần 5 triệu lượt mỗi năm. Bản sắc đi trước, tiền bước theo sau. Phát triển lúc nào cũng phải chọn. Tăng trưởng hay công bằng? Đường cao tốc mở ra, đất hai bên tăng giá chóng mặt. Người nông dân bán đất xong, cầm vài tỷ trong tay, một năm sau trắng tay vì không biết làm gì tiếp. Ai dạy họ? Ai chuẩn bị cho họ? Không chỉ là chuyện tiền. Là cách xã hội đối xử với những người yếu thế.

Giàu có hay hạnh phúc? Chiều nào người Hà Nội, TP Hồ Chí Minh cũng lê lết trong những đám tắc đường, mồ hôi nhễ nhại, còi xe inh ỏi. Thành phố lớn lên từng ngày. Nhà cao tầng mọc như nấm. Nhưng bạn bè tôi nhiều người than mệt. Con cái gửi cho ông bà ở quê. Bữa cơm gia đình hiếm dần. Tiền tăng. Thời gian giảm. Đổi vậy có đáng không? Tôi không ghét phát triển, cũng chẳng lãng mạn hóa sự nghèo khó. Tôi thích quán cà phê có điều hòa, thích metro chạy êm ru, thích thanh toán bằng QR khỏi phải lục ví. Nhưng tôi cũng sợ một thứ, nếu mình chạy nhanh quá, sẽ quên mất mình là ai.

Mấy chục năm lăn lộn, từ nhà quê lên thành phố, tôi học được một bài học đơn giản: Văn hóa không phải là những khẩu hiệu treo đầy đường, mà nó nằm trong cách người ta xếp hàng, trong cách doanh nghiệp đối xử với nhân viên, trong cách một đứa trẻ được dạy nói lời xin lỗi.

Chiếc phanh không kêu gào, và cũng chẳng bao giờ được xã hội tung hô. Nhưng nếu mất phanh, thì chỉ có lao xuống vực. Thế thôi.

Dương Thái Sơn

"Cái lõi" trong từng con người

Nếu đọc kỹ toàn văn Nghị quyết 80 - NQ/TW, chúng ta có thể nhận ra vài điểm lớn chính yếu có thể được xem là rất mới trong công cuộc bảo tồn, xây dựng và phát triển văn hóa, một công cuộc thực tế đã được xác định là tối quan trọng ngay từ khi mới lập quốc.

Nghị quyết 80: Khi văn hóa là
Du khách nước ngoài thích thú với tục cho chữ ngày xuân.

Một trong những điểm mới chính yếu chính là nhìn nhận về chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa tân tự do trên thế giới hiện nay như là một hình thái tổng lực đang cố gắng xóa bỏ các bản sắc riêng biệt của các dân tộc, đặc biệt là những dân tộc nhỏ, để tạo ra một thế giới phẳng đơn cực. Trong bối cảnh ấy, việc khẳng định chủ quyền văn hóa chính là sách lược phản kháng duy nhất nhằm ngăn chặn sự xâm thực của các yếu tố ngoại lai tiêu cực, có thể gây ra các xung đột giá trị trong một xã hội luôn duy trì và hướng tới sự bình ổn. Một trong những mặt trận quan trọng nhất, theo tính thời đại, chính là văn hóa số và chính Nghị quyết 80 - NQ/TW cũng khẳng định vị thế tối quan trọng của mặt trận này khi đặc biệt chú trọng vào chủ quyền văn hóa số.

Giữa thời đại mà chỉ cần sau nửa giây của một cú nhấp chuột đăng tải ở bên kia bán cầu thì ở Việt Nam đã có thể có cả ngàn người, thậm chí triệu người, tiếp cận một nội dung văn hóa mới, rõ ràng văn hóa là tiền đồn sinh tử thực sự. Một đứa trẻ Việt có thể lớn lên không còn chất Việt đủ đầy nữa nếu như không có một cơ chế phòng vệ để giúp nó tiếp thu cái tích cực và gạt bỏ những gì tiêu cực.

Đã từ khá lâu, thế giới ngày càng quan tâm hơn tới chủ nghĩa truyền thống (traditionalism - tham khảo A.Dugin), chủ nghĩa tin vào sự tồn tại của những giá trị thiêng liêng, vĩnh cửu gắn liền với lịch sử của từng dân tộc. Chủ nghĩa này cho rằng sự riêng biệt về bản sắc của mỗi dân tộc đã và vẫn tạo ra một thế giới đa dạng hơn, hấp dẫn hơn và từ đó có thể kiến tạo một thế giới đa cực. Trong bối cảnh thế giới phức tạp như hôm nay, khi mà chủ nghĩa đơn cực vẫn luôn dùng mọi sức mạnh để áp đặt, xâm thực văn hóa là một vũ khí hữu hiệu nhất để xóa bỏ cái thế giới "Utopia"này.

Sẽ không có gì dễ dàng khiến một xã hội mục tiêu nào đó trở nên bất an, phức tạp nếu như nội tại xã hội ấy tồn tại số đông đã bị đồng hóa về văn hóa theo đúng mục đích mà một cường quốc theo đuổi đơn cực đã đặt ra. Đơn giản, các thành viên trong xã hội ấy không còn hành xử như một cộng đồng truyền thống nữa và thay vào đó, nó đã trở thành một bản sao biến thể của một xã hội khác, thuộc về một không gian khác với một nền văn hóa khác.

Sự đồng hóa kể trên càng dễ dàng được thực hiện hơn nếu như đi trước nó là những viễn cảnh mơ ước về phồn thịnh của một xã hội tiêu dùng. Tư duy kinh tế quyết định luận đã luôn là nền tảng cho sự đồng hóa đó, khi nó đã và vẫn phát huy quá mạnh mẽ trước các xã hội vốn dĩ xuất phát từ nghèo kém, cái nôi của sự thèm khát vật chất khiến nhiều cá thể trong xã hội bước qua lằn ranh bất chấp việc đánh mất giá trị văn hóa cốt lõi của mình.

Chính trong bối cảnh như thế, chúng ta sẽ càng phải hiểu hơn về địa chính trị hiện đại. Địa chính trị hiện đại không còn đơn thuần là các ranh giới thể lý trên các tấm bản đồ nữa mà chính văn hóa cũng là các "bản đồ" không đường biên cố định trong các hoàn cảnh địa chính trị cụ thể theo thời gian thực. Hãy thử tưởng tượng, một quốc gia Alpha nào đó có 90% dân số nói thứ ngôn ngữ, có hành vi văn hóa cá nhân và tập thể giống như đúc của một quốc gia Beta, điều gì sẽ xảy ra? Đường biên giữa họ có chỉ đơn thuần là nơi đóng những cột mốc hay không?

Nghị quyết 80 - NQ/TW đã khẳng định Việt Nam đóng góp vào "dòng chảy văn minh nhân loại" bằng bản sắc riêng, xây dựng vị thế "sức mạnh mềm" để tự chủ trong trật tự thế giới mới và nêu rõ việc xây dựng con người dựa trên hai hệ giá trị: Hệ giá trị quốc gia và hệ giá trị gia đình. Đây chính là một luận điểm lớn và mới rất cần được đầu tư thành trọng tâm, đặc biệt là hệ giá trị gia đình, sau khi chúng ta đã chứng kiến rất nhiều đổ vỡ lớn trong nhiều tế bào xã hội sau 4 thập niên đổi mới.

Một câu chuyện nhỏ, nhưng có thể sẽ không còn nhỏ nữa, nếu chúng ta soi chiếu nó trong lăng kính của bảo tồn văn hóa chính là xu hướng xa nhà đi du lịch trong dịp Tết nguyên đán. Đó đã không còn là một xu hướng mang tính thời thượng nữa, mà đang dần trở thành thói quen xã hội, một thói quen rất cần cân nhắc về tính được-mất. Người Việt xem trọng việc thờ cúng tổ tiên, thậm chí còn vượt trên cả tôn giáo.

Ngoài giỗ, Tết nguyên đán chính là dịp để chăm sóc gia tiên thể hiện qua việc "mời ông bà về ăn Tết" ngày 30 và "tiễn ông bà đi" ngày hóa vàng. Đó không chỉ đơn thuần là một thủ tục thờ cúng, mà còn là cái dịp để gia đình đoàn tụ, gặp nhau sẻ chia và thậm chí là bỏ qua những giận hờn trong năm.

Chính vì thế, ngôn ngữ Việt mới có từ "giỗ chạp" là vậy. Việc rời bỏ khỏi ngôi nhà của mình ở dịp đó, được lý giải bằng những lý do như "xả hơi sau 1 năm vất vả", được biện minh theo kiểu "cả năm đã tối mặt tối mày rồi, giờ được ba ngày Tết lại cắm mặt vào bếp". Tất cả chúng ta đều được sinh ra, lớn lên nhờ vào cái "cắm mặt vào bếp" ấy của ông bà, cha mẹ mà không có bất kỳ một kêu than nào, nếu không nói là với đầy những háo hức.  Vất vả là điều ai cũng phải trải qua nhưng đối diện nó, với cân nhắc về bảo tồn một nét văn hóa được đặt trong trọng tâm là giá trị gia đình, chúng ta có lẽ cần suy nghĩ lại kẻo đến một ngày, khi nét văn hóa cơ bản ấy cũng không còn nữa, chúng ta sẽ từ vất vả chuyển sang thành mất cả.

Một câu chuyện khác, cũng phổ biến không kém, là câu chuyện ẩm thực. Tất cả chúng ta đều tự hào về sự đa dạng và tính hấp dẫn của ẩm thực Việt Nam, nhất là khi những bè bạn quốc tế trầm trồ trước những "của ngon vật lạ" từ những nhà hàng cho tới hè phố Việt. Nhưng hãy nhìn vào thế hệ sinh ra sau năm 2000, chúng ta sẽ thấy giật mình.

Có bao nhiêu phần trăm người Việt thế hệ này có khả năng nấu một bữa cơm gia đình với những món thuần Việt nhất? Họ đã bị cuốn vào một thế giới tiêu dùng nhanh tiện lợi với sự hậu thuẫn đặc biệt lớn từ sự nuông chiều từ chính mẹ, cha, ông, bà. Liệu rằng, sẽ có lúc nào đó, để nấu được những món ẩm thực thuần Việt đơn giản nhất, chúng ta sẽ phải cần tới các chuyên gia bởi vì số đông không còn ai biết đụng tay chế biến nữa.

Tất cả những nét văn hóa tưởng như đơn giản và nhỏ nhặt ấy đều phát xuất từ nền tảng gia đình. Gia đình nào giáo dưỡng con cái tốt, nét văn hóa sẽ được bảo tồn và nó sẽ thành sức mạnh nội sinh của chính những tế bào xã hội nhỏ bé này. Rồi từ hệ giá trị gia đình, hệ giá trị làng xóm cũng cần phải được phát huy và bảo tồn, vì nó chính là Việt.

Người Việt nói "làng nước ơi" chứ không ai nói "nước làng ơi" bởi "làng" đi trước "nước" do tính gắn bó của cộng đồng được tính từ vòng tròn nhỏ nới rộng ra dần. Những cao ốc là biểu trưng cho hiện đại nhưng nó lại hạn chế văn hóa xóm giềng, thứ keo sơn tạo ra sức mạnh Việt. Ở đó chỉ tồn tại các cá thể mạnh trong một cộng đồng yếu còn ở các xóm làng thì khác hẳn. Xóm làng là nơi của một cộng đồng mạnh nuôi dưỡng từng cá thể trở nên mạnh hơn.

Muốn gìn giữ, phát triển để văn hóa trở thành vũ khí chiến lược, là cái lõi của sức mạnh quốc gia, rất cần phát triển từ từng cá nhân. Và tất nhiên, cá nhân luôn cần cái nôi để phát huy "cái lõi" này. Cái nôi ấy là gia đình, là xóm giềng trước tiên và sau đó là các quốc sách đặt đúng trọng tâm văn hóa chứ không chỉ bị lóa mắt bởi những "xủng xoảng" công nghiệp văn hóa mang đậm tính thị trường.

Hà Quang Minh

.
.