Kinh tế chính là an ninh quốc gia

Thứ Tư, 13/05/2026, 08:29

LTS: Thịnh vượng luôn là điều mọi quốc gia đều mong vươn tới. Nhưng thịnh vượng đi đôi với an ninh là câu hỏi khó. Đơn giản, không quốc gia nào có thể làm giàu một mình, mà cần tương tác với nhiều đối tác khác trên thế giới. Có tương tác, ắt có những ràng buộc, thậm chí lệ thuộc. Và lệ thuộc có thể là chìa khóa để mở ra cánh cửa của mất an toàn.

Tăng trưởng và Hạnh phúc

Trong một phóng sự về xã hội Hàn Quốc đương đại trên trang ABC, Son A-Ram, một rapper và nhà văn tuổi trung niên, cay đắng nhận xét: “Người Hàn từng cho rằng chỉ cần cố gắng, làm việc chăm chỉ và học tập chăm chỉ, họ có thể thành công. Nhưng bây giờ, ngay cả điều đó cũng đang sụp đổ”.

Kinh tế chính là an ninh quốc gia -0

1. “Người trẻ không chỉ cảm thấy bị bỏ lại phía sau, mà thực sự là bị bỏ lại phía sau”, anh nhấn mạnh. “Họ nghĩ, các công ty ngày càng lớn, nhưng điều đó chỉ có nghĩa là phần dành cho chúng tôi càng ít đi”, A-Ram kết luận.

Hàn Quốc đã trải qua tốc độ tăng trưởng kinh tế phi thường kể từ khi Chiến tranh Triều Tiên kết thúc năm 1953, chứng kiến GDP bình quân đầu người tăng vọt từ chỉ 158 USD năm 1960 lên hơn 35.000 USD vào năm 2023, nhưng sự đứt gãy đã xuất hiện.

Chi phí sinh hoạt cao và cơ hội việc làm hạn chế đang khiến nhiều người trẻ từ chối lối sống truyền thống, vốn được xem như cánh cửa dẫn đến quan niệm về hạnh phúc. Những người đi theo lựa chọn khắc nghiệt này được đặt tên là “thế hệ sampo”, dịch ra là “ba từ bỏ”: họ sẽ không yêu đương, không kết hôn và không sinh con.

Vì sao nên nỗi? TheoTổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Hàn Quốc có số lượng thanh niên thất nghiệp ở mức cao, và hơn 30% lao động chỉ làm các công việc phi chính thức, bấp bênh. Điều này dường như thật vô lý: tại một quốc gia tăng trưởng đều đặn suốt hơn nửa thế kỷ và có những thương hiệu phủ bóng toàn cầu, vẫn có số lượng lớn người dân có thể vẫn… nghèo, và quan trọng hơn, không thật sự hạnh phúc.

Nghèo đói tồn tại không đơn thuần vì người ta thiếu tiền (nếu chỉ vì thế, GDP sẽ giải quyết được hết), mà vì các rủi ro đối với phúc lợi của họ không được kiểm soát, còn những con đường dẫn đến thịnh vượng bị chặn lại. Giải pháp không nằm ở việc chỉ đơn giản đưa tiền cho người nghèo, mà ở việc xử lý những nguyên nhân gốc rễ của sự bất an.

2. Nghèo đói là một trải nghiệm sống. Như tổ chức chống nghèo Five Talents mô tả rất thấm thía, nghèo đói là “một nhu cầu chưa được đáp ứng và một khát vọng chưa thành”.

Đó là thiếu thức ăn, thiếu nơi ở và thiếu an toàn. Là đang ốm nhưng không có tiền đi bác sĩ, hoặc mất con vì một căn bệnh có thể phòng ngừa. Là mặc quần áo không đủ ấm, uống nước không an toàn.

Nghèo đói là sự dễ tổn thương khiến người ta dễ bị lừa, bị gài bẫy và bị bóc lột. Nó là tủ lạnh trống rỗng, căn nhà không có điện, một nhà vệ sinh dùng chung cho cả trăm người hàng xóm. Nó là căng thẳng, hổ thẹn, và đau đớn.

Để dễ hình dung hơn về nguy cơ rơi vào nghèo đói, hãy đến với con số: Tỷ lệ chi tiêu y tế phải tự trả bằng tiền túi (out of pocket) chỉ khoảng 10% ở Thái Lan và Hà Lan, nhưng tăng vọt lên gần 50% ở Ấn Độ và Philippines, 65% ở Azerbaijan và mức đáng kinh ngạc 76% ở Nigeria, một quốc gia có dầu mỏ dồi dào. Để lo chi phí y tế cho người thân, các gia đình phải đóng thêm 10% cùng chi trả ở Thái Lan và tới 75% ở Nigeria.

Đấy có thể là ranh giới quyết định giữa việc còn trụ vững hay rơi vào nghèo đói. Một lần bạo bệnh là đủ đẩy một gia đình vào cảnh nghèo, và điều này có thể xảy ra ngay cả khi tăng trưởng GDP đang diễn ra.

3. Có lẽ vì nhìn thấu điểm này, khi nói về chiến lược tăng trưởng kinh tế hai con số đến năm 2045, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh rằng “mô hình tăng trưởng mới không chỉ thiên về chỉ tiêu kinh tế mà phải nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân, tạo thêm việc làm, giảm thất nghiệp, giảm nghèo và thu hẹp chênh lệch giàu nghèo, đồng thời bảo vệ môi trường” - trích tin trên VnExpress ngày 2/3/2026.

Phép đo lường sự thịnh vượng của một quốc gia phổ biến nhất vẫn là GDP (liên quan đến thước đo nguyên thủy hơn là GNP, tức tổng sản phẩm quốc dân), vốn được các nhà kinh tế tại Bộ Tài chính Anh phát triển dưới sự chỉ đạo của John Maynard Keynes lỗi lạc, được hoàn chỉnh năm 1941.

Một trong những kinh tế gia khai sinh GDP, Richard Stone, sau này đã thúc đẩy thước đo này thành chuẩn mực trong Liên hợp quốc. Chỉ trong vài năm, mô hình tăng trưởng vĩnh viễn dựa trên GDP đã được chuẩn hóa và chấp nhận trên toàn thế giới. Cho đến tận bây giờ, GDP là thước đo phổ quát cho vị thế kinh tế.

Nhưng hãy cảnh giác, vì GDP không đo được hết những thứ chúng ta coi là quan trọng. Trong khi đếm các hoạt động kinh tế như sản lượng ôtô hay số bữa ăn ngoài hàng, GDP bỏ qua các chi phí phi tiền tệ như ô nhiễm, cũng như lờ đi bất bình đẳng và cân bằng giữa công việc và cuộc sống.

Michael Green, một kinh tế gia người Mỹ đang làm giám đốc điều hành của tổ chức Social Progress Imperative ở Washington DC. Tổ chức này đã tạo ra Chỉ số tiến bộ xã hội (SPI) để đo lường phúc lợi của một quốc gia bằng cách xem xét các chỉ báo phi kinh tế như liệu người dân có được tiếp cận chăm sóc y tế cơ bản và giáo dục bậc cao hay không.

Green đã từng nói trên US News: “Có rất nhiều thứ [GDP] không nắm bắt được. [Nó] không nói gì về chất lượng cuộc sống của chúng ta, xét theo những điều thực sự quan trọng đối với con người bằng xương bằng thịt”.

Việt Nam không chấp nhận tăng trưởng thấp trong kỷ nguyên mới, nhưng bên cạnh các con số, thân phận con người sẽ luôn được cẩn thận nhìn nhận, thấu cảm và hành động vì con người trước tiên.

Phạm An

Độ mở kinh tế và bài toán chống chịu

Trong một thế giới nơi rủi ro không còn đến từ chiến trường mà len lỏi qua giá cả, việc làm và chuỗi cung ứng, an ninh ngày càng hiện hữu trong chính đời sống thường nhật. Việt Nam đang tiếp cận thực tế ấy theo cách rất riêng, xem tăng trưởng kinh tế như tuyến phòng thủ đầu tiên. Những con số GDP vì thế không chỉ phản ánh thành tích phát triển, mà còn là thước đo cho mức độ an toàn và khả năng chống chịu của quốc gia trước những bất ổn toàn cầu.

Kinh tế chính là an ninh quốc gia -0

1. Trong nhiều thập niên, an ninh quốc gia được hình dung qua lăng kính truyền thống như biên giới, quân đội, chủ quyền lãnh thổ. Nhưng thế giới đầu thế kỷ XXI đã phá vỡ cái khuôn khổ đó theo những cách không ai dự liệu. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã xóa sổ trị giá hàng nghìn tỷ đô la mà không cần một viên đạn. Đại dịch COVID-19 làm tê liệt các chuỗi cung ứng toàn cầu nhanh hơn bất kỳ cuộc chiến tranh kinh tế nào. Các biện pháp trừng phạt kinh tế trong quan hệ quốc tế gần đây cho thấy đòn tài chính có thể gây tổn thương sâu sắc…

Trong bối cảnh đó, năm 2017, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 12-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ an ninh kinh tế trong tình hình mới, một văn kiện có ý nghĩa định hướng quan trọng.

Cốt lõi của chỉ thị này là luận điểm mang tính chiến lược, an ninh kinh tế là bộ phận quan trọng, xuyên suốt của an ninh quốc gia. Nền kinh tế không chỉ là nguồn lực cho quốc phòng, nó chính là một phương thức phòng thủ. Tiếp nối đó, năm 2023, Chỉ thị số 24-CT/TW về bảo đảm vững chắc an ninh kinh tế trong quá trình hội nhập quốc tế đã nâng tầm tư duy này lên mức độ thực tiễn hơn, nhấn mạnh nguyên tắc phòng ngừa rủi ro "từ sớm, từ xa" thay vì chờ khủng hoảng rồi mới xử lý.

Năm 2025, Việt Nam công bố mức tăng trưởng GDP đạt 8,02%, một trong những tốc độ cao nhất châu Á và vượt xa mục tiêu 6,5-7% đề ra từ đầu năm. Quy mô nền kinh tế ước tính vượt ngưỡng 500 tỷ USD. Đây không phải lần đầu Việt Nam gây bất ngờ.

Năm 2024, kinh tế Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng 7,09%, vượt kỳ vọng trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang chững lại. Nhưng đằng sau những con số đó là những chỉ báo cấu trúc đáng chú ý hơn. Năng suất lao động cải thiện đều đặn. Tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ đào tạo đang tiến gần mốc 30%, phản ánh một lực lượng sản xuất đang dần được nâng cấp về chất lượng. Đây là những yếu tố tạo nên sức chống chịu nền tảng, thứ mà trong ngôn ngữ an ninh kinh tế, người ta gọi là "năng lực nội sinh".

Tuy vậy, bức tranh phát triển chưa thật sự đồng đều. Khoảng cách giữa các vùng, nhất là giữa đô thị lớn và khu vực còn khó khăn, vẫn là một điểm cần lưu ý. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, khi chênh lệch thu nhập kéo dài, những hệ lụy không chỉ dừng lại ở khía cạnh xã hội mà còn có thể ảnh hưởng tới sự ổn định chung và khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc từ bên ngoài.

2. Việt Nam là một trong những nền kinh tế mở nhất thế giới, tổng kim ngạch thương mại nhiều năm liền vượt gấp đôi quy mô GDP. Độ mở ấy đã trả công xứng đáng. Xuất khẩu tiếp tục là động cơ tăng trưởng, vốn đầu tư nước ngoài đổ vào các trung tâm sản xuất, từ điện tử ở miền Bắc đến dệt may ở miền Nam, và vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng khu vực ngày càng được củng cố.

Nhưng hội nhập sâu cũng đồng nghĩa với phụ thuộc nhiều hơn vào nhịp đập của kinh tế toàn cầu. Khi chuỗi cung ứng gián đoạn sau đại dịch, các nhà máy điện tử ở phía Bắc phải điều chỉnh sản xuất vì thiếu linh kiện.

Khi các thị trường lớn siết tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc thay đổi chính sách nhập khẩu, doanh nghiệp xuất khẩu trong nước buộc phải thích nghi nhanh, kéo theo những dịch chuyển về việc làm và chi phí. Mở cửa, vì thế, không chỉ mang lại cơ hội mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực điều hành, từ minh bạch hóa môi trường kinh doanh đến nâng chuẩn quản lý rủi ro trong các hoạt động kinh tế.

Những thách thức ấy không làm suy giảm giá trị của hội nhập mà định nghĩa lại điều kiện để hội nhập bền vững. Và một trong những rủi ro mới cần nhận diện, đó là biến đổi khí hậu đang bổ sung một chiều kích khó lường hơn, với hơn 3.200 km bờ biển và đồng bằng sông Cửu Long dễ tổn thương trước nước biển dâng, Việt Nam đối mặt với những nguy cơ không thể giải quyết bằng công cụ thương mại hay ngoại giao. Những khái niệm như an ninh lương thực hay an ninh nguồn nước, từng được xem là vấn đề phát triển, giờ đây ngày càng mang ý nghĩa của an ninh quốc gia.

3. Điểm đáng chú ý nhất trong tiến trình xây dựng an ninh kinh tế của Việt Nam không nằm ở những con số tăng trưởng, mà ở sự thay đổi trong tư duy quản trị. Các lực lượng bảo vệ an ninh kinh tế, thay vì chỉ xử lý hậu quả, đang ngày càng tham gia sâu vào quy trình phòng ngừa, như rà soát dự án đầu tư nước ngoài từ sớm, phân tích rủi ro thị trường tài chính theo thời gian thực, và phối hợp với các bộ ngành xây dựng hệ thống cảnh báo sớm trước khi rủi ro chuyển hóa thành khủng hoảng.

Trong bối cảnh kinh tế số phát triển với tốc độ chóng mặt, bảo vệ hạ tầng số và dữ liệu quốc gia đã trở thành ưu tiên mới. Các vụ tấn công mạng nhắm vào hệ thống ngân hàng, hạ tầng viễn thông, hay sàn giao dịch chứng khoán đã được ghi nhận tại nhiều quốc gia và đặt ra yêu cầu tăng cường phòng ngừa đối với Việt Nam. Đây là lý do khiến an ninh mạng và an ninh kinh tế đang hội tụ thành một lĩnh vực thực hành duy nhất.

Câu hỏi cuối cùng, và quan trọng nhất, không phải là liệu Việt Nam có thể duy trì tốc độ tăng trưởng cao hay không. Câu hỏi thực sự là, liệu tăng trưởng đó có đang được chuyển hóa thành sức chống chịu thực sự trước những cú sốc trong tương lai? Sức chống chịu đó cần được xây dựng trên nhiều tầng. Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu để giảm phụ thuộc vào một vài đối tác lớn. Đầu tư có trọng điểm vào khoa học công nghệ để giảm nhập khẩu công nghệ lõi. Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đủ mạnh để hấp thụ các cú sốc lao động.

Và quan trọng không kém, đó là duy trì sự phân bổ thành quả tăng trưởng một cách công bằng hơn, bởi bất bình đẳng, như lịch sử nhiều quốc gia đã chứng minh, là mảnh đất màu mỡ cho bất ổn. Nhìn vào định hướng chiến lược giai đoạn 2025-2030, Việt Nam đặt mục tiêu trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và thu nhập cao vào năm 2045. Những mốc đó không chỉ là thành tích kinh tế, trong ngôn ngữ an ninh quốc gia, chúng là biểu hiện của một quốc gia đang chủ động nâng cao năng lực tự bảo vệ mình trước các rủi ro toàn cầu.

Trong thế kỷ XXI, an ninh quốc gia không còn được quyết định chủ yếu trên chiến trường, mà trong cách một quốc gia xây dựng, phân bổ và bảo vệ sự thịnh vượng của mình. Việt Nam đang đi đúng hướng, nhưng con đường phía trước đòi hỏi sự cân bằng giữa mở cửa và tự chủ, giữa phát triển nhanh và phát triển bền vững, giữa thịnh vượng của hôm nay và khả năng chống chịu của ngày mai.

Dương Thái Sơn

Kinh tế chính là an ninh quốc gia

Năm 2022, Tổng thống Mỹ Joe Biden đưa ra một đạo luật cực quan trọng và nó đã góp phần tạo ra nền tảng cho những biến động toàn cầu sau này. Đó chính là đạo luật CHIPS (CHIPS and Science Act 2022). Đại ý, đạo luật này nhấn mạnh vào hai điểm: đưa sản xuất chips ở nước ngoài về nội địa Mỹ và cấm các công ty nhận trợ cấp chính phủ Mỹ được mở rộng, xây dựng các cơ sở sản xuất chips tiên tiến tại Trung Quốc.

Kinh tế chính là an ninh quốc gia -0

Đạo luật này ra đời sau một thức tỉnh từ đại dịch COVID-19. Khi đó, chuỗi cung ứng bị bẻ gãy khi nhiều nhà máy ở Đông Á phải đóng cửa. Từ đó dẫn tới việc nhiều ngành sản xuất ở Mỹ bị đình trệ. Ví dụ như ngành công nghiệp ôtô chẳng hạn. Chẳng ai nghĩ chỉ vì thiếu vài con chips rẻ tiền mà hàng loạt xe tải sản xuất xong phải xếp xó vì chưa thể xuất xưởng.

Việc đạo luật CHIPS ra đời cũng khiến nhiều quốc gia thức tỉnh. Tất cả đã tham gia quá sâu vào hợp tác toàn cầu trong suốt giai đoạn toàn cầu hoá mà bỏ quên mất việc mình lệ thuộc cũng sâu trong sự hợp tác ấy. Chỉ cần một đình trệ ở đâu đó thôi cũng đủ có thể tạo ra bất ổn kinh tế ở một vài góc nào đó của bán cầu. Và khi bất ổn kinh tế không được giải quyết, nó sẽ biến thành bất ổn xã hội. Từ bất ổn xã hội, an ninh quốc gia đối diện khủng hoảng khó lường.

Kinh tế luôn được xem là rất quan trọng đối với mỗi quốc gia nhưng ở thế kỷ 21 này, tầm quan trọng của kinh tế đã trở nên sâu sắc hơn rất nhiều. Nếu như ở 100 năm trước, kinh tế yếu kém có thể dẫn tới đầu tư quốc phòng hạn hẹp hơn và đẩy một quốc gia vào lâm nguy nếu có chiến tranh xảy ra. Còn hiện tại, có những cuộc khủng hoảng kinh tế đủ sức khiến một thể chế sụp đổ mà không cần bất kỳ một cuộc chiến tranh nào. Vì thế, rất nhiều học giả của thế kỷ 21 đã nhận định rằng “Ở thời đại hiện nay, Kinh tế chính là An ninh quốc gia”.

Trong cuộc chơi kinh tế toàn cầu, luôn có vài quốc gia nào đó nắm những lợi thế vượt trội mà các quốc gia khác phải phụ thuộc vào đó. Chỉ cần quốc gia nắm lợi thế kia khóa cửa trước một đối thủ nào đó, đối thủ của họ sẽ rơi vào khủng hoảng nặng nề. Ví dụ điển hình nhất chúng ta có thể nhận thấy hôm nay chính là Iran và eo biển Hormuz. Khi họ đóng cửa eo biển ấy lại, rất nhiều quốc gia thực sự như ngồi trên đống lửa.

Trong lịch sử, tài nguyên đã từng được xem là sức mạnh rất lớn của một quốc gia nhưng ở thời hiện đại, sức mạnh ấy đã phải xếp sau lưng sức mạnh của dịch vụ. Tại sao gần đây châu Âu phải chuyển sang thúc đẩy phổ biến hệ điều hành Linux cũng chính là câu trả lời cho sức mạnh dịch vụ ấy. Bản thân hệ điều hành của Microsoft, hệ điều hành iOS… không chỉ là một dạng sản phẩm đơn thuần. Chúng chính là dịch vụ khi nó mở ra một nền tảng cho rất nhiều sản phẩm khác hoạt động trên hệ sinh thái của mình. Và rất nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, đang lệ thuộc vào hệ sinh thái toàn cầu này.

Chính các lợi thế như vậy đã giúp các quốc gia sở hữu chúng nắm được các yếu huyệt của các địch thủ và tận dụng các yếu huyệt đó để ép đối tác phải chơi theo cách của họ. Thậm chí, với sự mở rộng của những loại dịch vụ phục vụ các nhu cầu cá nhân hoá, nhiều quốc gia có thể tiếp cận cư dân của quốc gia khác một cách dễ dàng, và chi phối họ, dẫn dụ họ. Chính mối nguy này đã khiến nhiều Chính phủ bắt đầu tập trung đầu tư mạnh mẽ cho các lĩnh vực mà họ có thể lấy lại sự tự chủ vì họ hiểu rằng, chi phí đầu tư ban đầu cho những lĩnh vực ấy có thể cực lớn nhưng đổi lại, họ sẽ có một nền kinh tế có sức đề kháng tốt hơn và vượt trên hết, mang lại ổn định, an ninh quốc gia lâu bền hơn.

Đó chính là lý do đạo luật CHIPS của chính phủ Mỹ cam kết chi tới 280 tỷ USD trong 10 năm tập trung vào trợ cấp trực tiếp, ưu đãi thuế, nghiên cứu phát triển để Mỹ không còn lệ thuộc vào chips nhập khẩu. Nên nhớ, năm 1990, Mỹ sản xuất 37% lượng chips toàn cầu trong khi tỷ lệ này ở năm 2022 chỉ còn 12% mà thôi.

Các bài học đương đại này cho thấy, để phát triển kinh tế, các con số không phải là tất cả mà an ninh quốc gia phải được đưa lên hàng đầu. Vẫn biết, không có quốc gia nào có thể 100% tự chủ hoàn toàn về kinh tế trong bức tranh toàn cầu hiện nay nhưng càng hạn chế để lộ các yếu huyệt, hoặc bảo vệ tối đa các yếu huyệt, phải là nhiệm vụ tối quan trọng. Ví dụ như việc sản xuất chips ở Việt Nam chẳng hạn. Chúng ta nên xác định cần đầu tư cho nghiên cứu nhiều hơn nữa khi Việt Nam chưa làm chủ được các phần mềm thiết kế chips lõi.

Câu chuyện trong nước cũng quan trọng không kém. Sự ổn định an ninh luôn đến từ ổn định kinh tế nội địa trước tiên. Một trong những điểm đáng quan tâm nhất chính là việc phân phối lại sản phẩm làm sao để giảm thiểu mất cân bằng xã hội nhất. Đặc biệt, khi công nghệ ngày càng tham gia sâu và tạo ra nhiều giá trị thặng dư hơn, đe dọa việc làm của nhiều người hơn, xã hội sẽ rất dễ phân hóa khi người nghèo dễ bị nghèo đi trong khi người giàu lại càng giàu hơn. Điều đó dễ tạo ra các ức chế nội tại đủ tạo chiều kích cho những bất ổn khó lường.

Chủ trương lớn của Đảng và Chính phủ hiện nay là “Lấy nhân dân làm trung tâm” không nằm ngoài tầm nhìn về nguy cơ kể trên. Kinh tế đã được nhìn nhận không chỉ ở chỗ tạo ra sản phẩm, tạo ra giá trị thặng dư mà còn là phân bổ chúng thế nào để xã hội bình ổn nhất.

Điều đó yêu cầu các chính sách chặt chẽ hơn nữa, đặc biệt đòi hỏi giới tinh hoa kinh tế phải “ích kỷ khôn ngoan”, tức là biết hy sinh lợi ích ngắn hạn trước mắt của mình để tập trung cho lợi ích lâu dài (vốn nằm trong lợi ích chung của xã hội, của nhân dân). Chính lợi ích lâu dài đó mới tạo ra sự bình ổn, củng cố hòa bình, xây dựng khối đại đoàn kết vì một mục tiêu chung: Quốc gia vươn mình.

Minh Hà

.
.