Giá trị của Hòa bình
LTS: Những ngày cuối tháng Tư luôn đặc biệt đối với người Việt. Đó là dịp Tết Thống nhất, Tết Hòa bình. Năm nay, dịp Tết ấy đến ngay sau Giỗ tổ Hùng Vương, với lời nhắc của Bác Hồ vẫn mãi sáng ngời chân lý "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước…".
Nghĩ về điều không xảy ra
Năm 1985, có hai người Việt vượt biên bị bắt ở cửa khẩu Battambang (phía Tây Bắc Campuchia), mang theo lệnh ám sát, truyền đơn kêu gọi nổi dậy lật đổ chính quyền Việt Nam. Những bằng chứng cho thấy một cuộc nổi loạn quy mô lớn có thể sắp diễn ra.
1.Khi ấy, tướng tình báo Đặng Trần Đức (tức Ba Quốc), người phụ trách mặt trận Campuchia, cần một cán bộ lão luyện đi thẩm vấn để bóc tách âm mưu này. Cái khó là toàn bộ những sĩ quan giàu kinh nghiệm đã về Việt Nam công tác, trong khi bản thân ông không thể rời trụ sở.
Chỉ còn sĩ quan Nguyễn Chí Vịnh, người mới làm quen với chiến trường Campuchia được đúng một năm, là sẵn sàng: "Trước sau không còn ai, hay chú cho cháu đi?" - Anh mở lời. “Cậu làm được không?” - ông Ba Quốc hỏi lại. "Thưa chú, làm được hay không cháu không biết, nhưng chắc chắn cháu sẽ làm hết sức và theo đúng lời dặn của chú".
Đấy là câu chuyện mà Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh đã kể lại trong cuốn hồi ký "Người thầy", về kỷ niệm đáng nhớ ngày mới vào nghề của ông. May mắn là sĩ quan Nguyễn Chí Vịnh đã thành công, thẩm vấn, khai thác được thông tin làm tiền đề ngăn chặn một cuộc bạo loạn quy mô lớn ở các tỉnh miền Tây bấy giờ.
Trong cuốn sách không quá dày ấy, bạn không khỏi kinh ngạc khi lật qua những trang gay cấn kiểu đó: nguy cơ chiến tranh, bạo loạn có thể đã trở thành sự thật nếu không có ai đó tìm cách tháo ngòi, và đôi khi sức nặng của số phận dồn lên vai một sĩ quan còn non nớt, như chuông treo vào sợi chỉ mảnh.
2.Nói về hòa bình, chính là nói về những thứ đã may mắn không xảy ra như thế. Khi nghiên cứu về chiến tranh, chúng ta có thể mổ xẻ dễ dàng, vì tính "vật chất hóa" được của nó. Khi chiến tranh và bạo lực xảy ra, nó luôn có hình hài: một vụ xả súng; một người bị giết; một khu phố bị đột kích; biên giới bị xâm phạm. Bạn có thể đếm được số lượng, cộng dồn lại và đưa vào các tập dữ liệu.
Rồi từ đó, với một mức độ tin cậy nhất định, các nhà khoa học chính trị có thể đưa các hành vi bạo lực vào mô hình hóa, để đưa ra những tuyên bố về thế giới. Chúng ta có thể kết luận rằng bạo lực xảy ra nhiều hơn, kèm cái bối cảnh là tiền đề cho nó xảy ra. Từ đó, đường nét của những khả thể chiến tranh được đặt tên và định hình.
Nhưng trạng thái hóa bình thiếu vắng hẳn sự định hình này: nó dường như là một không-sự-kiện. Một tập hợp rỗng của những điều đã không xảy ra. Không ai đi đếm những điều đã không đến, và mọi người thậm chí chỉ biết nguyên nhân sau nhiều năm, khi hòa bình đã tồn tại như một điều đương nhiên, như không khí chúng ta đang hít thở.
3.Cái giá của hòa bình rất đắt, nếu bạn nhìn vào những con số đang góp phần hàn gắn và giảm thiểu những vết thương chiến tranh.
Mỗi năm, các nhà tài trợ quốc tế chi khoảng 22 tỷ USD cho các nỗ lực kiến tạo hòa bình. Kể từ năm 2000, riêng Colombia đã nhận 10 tỷ USD. Lực lượng lớn thứ hai được triển khai ra nước ngoài trên thế giới - chỉ sau quân đội Hoa Kỳ - là đội ngũ 100.000 nhân viên gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, trong khi các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới và Liên minh châu Phi làm việc cùng hàng nghìn tổ chức phi chính phủ, nhà ngoại giao, nhân viên cứu trợ và viện nghiên cứu để kiềm chế và giảm thiểu xung đột.
Nhưng bất chấp những nỗ lực cả về công sức lẫn của cải ấy, mọi thứ dường như đang diễn ra theo chiều hướng tệ hơn. Theo giáo sư kinh tế học Paul Collier tại Đại học Oxford, có đến 40% các khu vực từng xảy ra xung đột đã quay trở lại với bóng ma chiến tranh chỉ trong vòng một thập niên. Một nửa trong số các cuộc chiến đang diễn ra đã kéo dài hơn 20 năm. Số người tử trận trên chiến trường đã tăng vọt 277% trong 15 năm qua.
Cũng như nhiều người sinh cùng thế hệ của mình, tôi không hề biết đến chiến tranh từ khi sinh ra, cũng như chỉ cảm nhận nó thông qua lời kể của các bậc cha chú, những người đã thực sự vào sinh ra tử trước khi có hoà bình. Với chúng tôi, hòa bình là một trạng thái gần như đương nhiên, tức là bạn có thể sống mà rất ít khi nhớ đến chuyện nó đến từ đâu và như thế nào.
Nhưng thử đọc và ngẫm về những điều đã không xảy ra, với bối cảnh thế giới đang không ngừng xung đột và Việt Nam đã trải qua hàng thập niên sống trong hoà bình, bạn chắc chắn sẽ cảm thấy mình đã may mắn như thế nào, khi số phận các cuộc chiến có thể đã được một ai đó bẻ chệch đường đi một chút thôi, để không đi vào một lối rẽ dẫn đến cuộc đời bạn.
Và đấy là lý do chúng ta cần phải biết ơn, đối với những điều đã không xảy ra. Hòa bình không hề là một trạng thái đương nhiên mà có. Có rất nhiều con người và những điều thầm lặng vẫn đang gạt đường đi của hòn tên mũi đạn khỏi số phận của bạn, tôi và con cháu chúng ta, ngay lúc này.
Phạm An
Giá của những tháng năm không thể trở lại
51 năm sau ngày đất nước thống nhất, khi những cánh đồng đã xanh và những thành phố đã sáng đèn, có những thân phận vẫn nằm lại trong ký ức thời chiến như những dấu lặng không thể xóa. Cuộc đời Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Thương là một trong những dấu lặng ấy, nơi có thể nhìn thấy rõ cái giá của hòa bình không nằm ở những điều lớn lao, mà hằn lên những vết sẹo trên thân thể và số phận của một con người.
Nguyễn Văn Thương sinh ra ở vùng đất Trảng Bàng, nơi chiến tranh đã đi qua từ rất sớm và để lại những khoảng trống không dễ lấp đầy. Ông lớn lên trong một gia đình có truyền thống cách mạng, nhưng cũng là một gia đình đã sớm bị chiến tranh lấy đi những điều căn bản nhất. Những mất mát ban đầu ấy không được kể lại bằng lời, mà dường như thấm vào cách một con người bước vào cuộc đời, vào cách ông chọn con đường đi của mình khi còn rất trẻ. Từ cuối những năm 1950, ông tham gia cách mạng, trở thành một cán bộ giao liên, làm nhiệm vụ chuyển tài liệu giữa các cơ sở nội đô Sài Gòn với căn cứ. Đó là công việc không có ánh sáng, không có tên tuổi, không có chỗ cho những sai sót, bởi mỗi sai lầm đều có thể phải trả giá bằng mạng sống bản thân và có thể là của nhiều người khác.
Trong những năm tháng ấy, Sài Gòn là một không gian đầy những lớp vỏ chồng lên nhau, nơi một con người có thể đi qua đám đông mà không ai biết mình là ai, nhưng cũng là nơi mọi ánh nhìn đều có thể trở thành nguy hiểm. Nguyễn Văn Thương sống và hoạt động trong không gian đó, mang theo những tài liệu mà giá trị của nó nằm ở những thông tin có thể quyết định sự an toàn của cả một mạng lưới. Những chuyến đi của ông không được ghi lại bằng nhật ký, không có người chứng kiến, chỉ có sự im lặng kéo dài từ điểm xuất phát đến điểm kết thúc. Chính sự im lặng ấy là một phần của chiến tranh, một dạng tồn tại mà chỉ những người trong cuộc mới hiểu được.
Năm 1969, trong một chuyến làm nhiệm vụ, ông bị địch bắt. Sự kiện này không chỉ là một bước ngoặt trong cuộc đời một cá nhân, mà còn đặt ông vào một thử thách khắc nghiệt nhất của chiến tranh, nơi con người không còn được bảo vệ bởi bất kỳ điều gì. Trong thời gian bị giam giữ, ông đã phải chịu đựng những hình thức tra tấn mà ngay cả khi được kể lại bằng những từ ngữ chính xác nhất, vẫn khó có thể hình dung hết mức độ của nó. Các tài liệu chính thống ghi nhận rằng ông bị tra tấn bằng cách cưa chân nhiều lần nhằm buộc phải khai báo những thông tin mà ông nắm giữ. Đó là một dạng bạo lực không chỉ nhắm vào thể xác mà còn nhằm phá vỡ ý chí của con người, buộc họ phải lựa chọn giữa sự sống và sự trung thành.
Nhưng trong suốt quá trình ấy, Nguyễn Văn Thương đã không khai bất kỳ thông tin nào. Điều này, nếu chỉ nhìn như một hành động kiên cường, có thể khiến người ta dễ dàng gắn cho nó những mỹ từ quen thuộc. Nhưng nếu nhìn sâu hơn, đó là một lựa chọn rất cụ thể của một con người trong hoàn cảnh không còn đường lùi. Ông đã giữ im lặng không phải vì không cảm nhận được đau đớn, mà chính vì hiểu rõ rằng mỗi lời nói ra đều có thể kéo theo những hậu quả không thể sửa chữa. Sự im lặng ấy, trong trường hợp này, là một cách bảo vệ, một cách giữ lại điều quan trọng nhất trong một hoàn cảnh mà hầu như mọi thứ đều có thể bị lấy đi.
Sau Hiệp định Paris năm 1973, ông được trao trả tù binh và trở về trong tình trạng thương tật nặng. Đôi chân của ông đã bị cưa mất, nhưng người chiến sỹ kiên trung ấy vẫn không dừng bước, vẫn tiếp tục bước đi đến ngày chiến thắng. Thân thể ông đã không còn nguyên vẹn, nhưng cuộc đời thì vẫn tiếp tục, theo một cách khác, trong một hoàn cảnh khác. Sau năm 1975, khi đất nước thống nhất, ông tiếp tục công tác trong lực lượng vũ trang, sống một cuộc đời mà những dấu vết của chiến tranh luôn hiện hữu. Những gì ông mang theo không chỉ là thương tích, mà còn là ký ức về một thời mà mỗi ngày trôi qua đều gắn với nguy hiểm, với những lựa chọn khó khăn và với những điều không thể nói hết bằng lời.
Cuộc đời của Nguyễn Văn Thương, nếu nhìn từ bên ngoài, có thể được tóm lại bằng những mốc sự kiện rõ ràng, nhưng nếu nhìn từ bên trong, đó là một hành trình của những mất mát không thể đo đếm. Một phần thân thể bị lấy đi, nhưng điều quan trọng hơn là những năm tháng tuổi trẻ đã được đặt vào một hoàn cảnh mà ở đó, con người phải sống không chỉ cho mình. Những điều như vậy không dễ được nhìn thấy trong đời sống thường ngày, nhưng lại chính là nền tảng vô hình của hòa bình mà một quốc gia có được sau chiến tranh.
51 năm sau ngày thống nhất, Việt Nam đã đi qua một chặng đường dài, từ một đất nước bị tàn phá nặng nề trở thành một nền kinh tế đang phát triển với nhiều cơ hội mới. Những thành phố mở rộng, những tuyến đường được nối dài, đời sống của người dân được cải thiện, tất cả những điều đó tạo nên một bức tranh khác, tươi sáng hơn, văn minh hơn. Tuy nhiên, nếu nhìn rộng ra thế giới, có thể thấy chiến tranh vẫn chưa rời khỏi đời sống của nhân loại. Những cuộc xung đột vẫn diễn ra ở nhiều khu vực, và tác động của chúng không dừng lại ở phạm vi địa lý nơi xảy ra, mà lan ra thông qua những biến động về kinh tế, năng lượng và thương mại.
Trong một thế giới như vậy, một quốc gia dù không tham gia vào xung đột vẫn có thể chịu ảnh hưởng từ những biến động bên ngoài. Giá năng lượng tăng, chuỗi cung ứng bị gián đoạn, chi phí sản xuất và sinh hoạt thay đổi, tất cả đều là những biểu hiện của chiến tranh trong một hình thức khác. Việt Nam, với nền kinh tế có độ mở cao, cũng không nằm ngoài những tác động đó. Điều này cho thấy chiến tranh trong thời đại hiện nay không chỉ là vấn đề của những quốc gia trực tiếp tham chiến, mà là một yếu tố có thể ảnh hưởng đến nhiều quốc gia khác nhau, ở nhiều cấp độ khác nhau.
Từ câu chuyện của một con người cụ thể như Nguyễn Văn Thương đến những biến động của thế giới hiện đại, có thể nhận ra một điểm chung, đó là chiến tranh luôn để lại những hậu quả vượt ra ngoài thời điểm và không gian của nó. Nó không chỉ lấy đi sinh mạng, mà còn làm gián đoạn sự phát triển, làm thay đổi số phận của con người và để lại những hệ lụy kéo dài qua nhiều thế hệ. Ngược lại, hòa bình không chỉ là trạng thái không có chiến tranh, mà là điều kiện để một xã hội có thể vận hành bình thường, để con người có thể sống trọn vẹn hơn với gia đình và với chính mình, và để một quốc gia có thể tập trung vào việc xây dựng tương lai.
Nhìn lại cuộc đời của Nguyễn Văn Thương, có thể thấy rõ rằng hòa bình mà chúng ta đang có hôm nay không phải là một điều tự nhiên mà xuất hiện. Nó được hình thành từ những hy sinh rất cụ thể của những con người đã đi qua cuộc chiến, những người đã chấp nhận mất đi một phần thân thể, một phần cuộc đời để giữ lại những điều lớn hơn. Khi những cuộc xung đột trên thế giới vẫn tiếp diễn, giá trị của hòa bình càng trở nên rõ ràng hơn, không phải như một khẩu hiệu, mà như một điều kiện thiết yếu để con người có thể sống, phát triển và hướng tới tương lai.
Dương Thái Sơn
Chuẩn bị trong hòa bình
Quãng thời gian sau Tết âm lịch cho tới nay mọi trang thông tin đều được phủ kín bởi những gì đang xảy ra ở Vùng Vịnh. Mỹ và Israel mở mặt trận chống Iran và Iran đáp trả. Eo biển Hormuz bị kiểm soát chặt chẽ, nếu không nói là bị đóng sập lại, và bẻ gãy tất cả các chuỗi cung ứng toàn cầu. Và những ai quan tâm thế sự vẫn tiếp tục luận bàn. Nhưng họ đang bàn về cái gì? Tất cả đều chỉ tập trung vào mấy điểm: vũ khí bên nào mạnh hơn? Tên lửa, UAV của Iran đã tấn công như thế nào, hệ thống phòng thủ của Mỹ-Israel hiệu dụng tới đâu; eo Hormuz bao giờ mở lại, mở tạm thời hay mở vĩnh viễn v.v và v.v… Dễ hiểu, dư luận sẽ chỉ bàn về những gì mà họ thấy (hoặc được cho thấy). Phần chìm của tảng băng thì không mấy ai có khả năng bàn tới bởi thiếu thông tin, thiếu kiến thức hoặc thậm chí bị dẫn dắt một chiều.
Thật ra, chiến tranh theo nghĩa đen (bom rơi, đạn nổ, người thương vong) thì mới chỉ diễn ra gần đây thôi nhưng chiến tranh đúng nghĩa giữa Mỹ - Israel với Iran xảy ra từ rất lâu rồi. Đó là một cuộc chiến thầm lặng, ít ai để ý, trừ những chuyên gia nghiên cứu. Nó được gọi là cuộc chiến tranh kinh tế và Mỹ đã tiến hành cuộc chiến đó chống lại Iran suốt 30 năm qua.
Ngân hàng Trung ương Iran là ngân hàng trung ương duy nhất trên thế giới bị cấm vận hoàn toàn bởi Chính phủ Mỹ. Khi mà một lệnh cấm vận đúng trình tự buộc phải được thông qua ở Đại hội đồng cũng như Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, việc một cường quốc như Mỹ đưa ra lệnh áp đặt trừng phạt lên một quốc gia khác rất cần sự đồng thuận. Nhưng Iran có dầu lửa, thứ mà nhiều quốc gia dù không mặn mà mấy trong quan hệ với họ cũng đều phải cần nguồn cung từ họ, Mỹ khó lòng đưa ra một lệnh cấm vận tuyệt đối như họ cấm vận Cuba. Và đó chính là lý do họ sử dụng đòn tấn công vào hệ thống tài chính, ngân hàng của Iran. Đơn giản, Mỹ nắm quyền kiểm soát tối thượng trong hệ thống ngân hàng, thanh toán quốc tế toàn cầu. Và cách mà họ thực thi kế hoạch phong tỏa Ngân hàng Trung ương Iran thì vô cùng tỉ mỉ, chi tiết. Trong suốt 20 năm qua, các chuyên gia của phòng Tình báo Bộ Tài chính Mỹ đã rong ruổi khắp Đông sang Tây, vừa thuyết phục, vừa đe dọa các ngân hàng, tập đoàn tài chính về nguy cơ rủi ro trừng phạt nếu họ hợp tác với Ngân hàng Trung ương Iran. Kết quả, họ đã đẩy Iran vào tình thế rất khó khăn khi tiền doanh thu bán dầu là có nhưng không thể nào sử dụng những đồng tiền ấy ngoài những mục đích dân sự cơ bản. Họ hy vọng, sự suy sụp về kinh tế sẽ tạo ra các đứt gãy rất lớn trong xã hội Iran, từ đó kích thích các ngòi nổ nội tại và tạo ra một môi trường chính trị bất ổn định kéo dài khiến hệ thống của quốc gia Hồi giáo này phải sụp đổ dần từ bên trong.
Tất nhiên, thế giới không chỉ có nước Mỹ. Và vì thế, dù đối diện rất nhiều khó khăn, Iran vẫn có thể vượt thoát trở ngại nhờ vào các đồng minh thân cận của mình trong các hoạt động thương mại, đặc biệt là ở các mặt hàng "nhạy cảm". Khi cuộc chiến kinh tế kéo dài nhưng không đủ để khiến Iran kiệt quệ và sụp đổ từ bên trong, đó là lúc súng đạn phải lên tiếng. Chúng được xem là giải pháp cuối cùng.
Ảnh hưởng của cuộc xung đột Trung Đông những tháng qua đã lan ra toàn cầu. Việt Nam không thể nào tách mình bên ngoài các "dư chấn" ấy cả. Có thể nói, chúng ta may mắn được sống trong một quốc gia bình yên, an toàn, hòa bình nhưng chúng ta cũng đang phải sống trong một thế giới biến loạn của chiến tranh mà khó lòng ta có thể đứng ngoài cuộc. Hãy thử nhìn vào chuỗi các sự kiện diễn ra kể từ năm 2022 tới nay thôi, chúng ta sẽ hiểu. Thị trường toàn cầu đã chao đảo, thị trường Việt Nam cũng khó yên.
Tất cả những câu chuyện kể trên đều để chúng ta cùng phải suy ngẫm kỹ lưỡng với nhau về giá trị của hòa bình. Kể từ đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, Việt Nam đã duy trì và giữ vững thế trạng hòa bình, yên ổn để có sự phát triển mạnh mẽ. Hòa bình là thứ để chia sẻ và trong một môi trường hòa bình, con người có thể chia sẻ các lợi ích cùng nhau thông qua các hoạt động hợp tác, tương tác trong xã hội. Trước 1975, nông dân cả ba miền đều không thể khai thác ruộng đồng của mình một cách hiệu quả tối ưu khi mối đe dọa đạn bom luôn chầu chực. Còn trong nửa thế kỷ hòa bình vừa rồi thì sao? Khi không còn mối đe dọa thường trực, người nông dân bước xuống ruộng với nhiều đầu tư hơn, tạo ra nhiều sáng kiến hơn và mỗi hecta mang lại nhiều lợi ích thiết thực hơn. Các ngành nghề khác cũng vậy. Hòa bình chính là tiền đề của sức phát triển xã hội và gìn giữ hòa bình luôn là mục tiêu mà mọi quốc gia đều đặt lên hàng đầu.
Nhưng giống như một câu ngạn ngữ xưa nhưng chưa bao giờ cũ là "Chiến tranh mang lại hòa bình và hòa bình cũng mang lại chiến tranh", cái chu kỳ đó của loài người là ám ảnh rất lớn. Động lực học lịch sử (cliodynamics) là một ngành nghiên cứu xã hội học mới mẻ đang được nhiều học giả quốc tế đào sâu trong khoảng 2-3 thập niên trở lại đây cũng chỉ với mục đích duy nhất "học từ kinh nghiệm lịch sử" nhằm tránh các sự lặp lại của chu kỳ kể trên. Họ tìm hiểu tại sao trong hòa bình, mầm mống của chiến tranh luôn ẩn hiện và từ đó đưa ra các phương cách nhằm xóa sạch mọi mầm mống như thế ngay khi nó chưa kịp lộ diện. Đó là một thái độ thận trọng, tránh sa vào chủ quan khi được tận hưởng hòa bình quá lâu.
Một trong những vũ khí đối ngoại mà các cường quốc áp đặt vẫn luôn sử dụng suốt nhiều thập niên qua chính là sử dụng các vũ khí kinh tế để hình thành bất ổn từ bên trong xã hội đối thủ rồi sau đó sự dụng các tác động bên ngoài dưới nhiều chiêu bài để khiến xã hội đó phải tan rã dần từ nội tại. Nghiên cứu từ động lực học lịch sử cho thấy, khi một xã hội bắt đầu tồn tại nhiều sự bất công, khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, nó sẽ là sinh quyển rất phù hợp để các bất hoà có thể nổ ra. Các đối thủ bên ngoài sẽ vô cùng ưa thích những bất hoà nội tại như thế và càng tìm mọi cách để kích động nó. Cần phải nhận diện các bất hoà nội tại tiềm tàng và triệt tiêu chúng bằng các chính sách hiệu quả nhất, bởi chỉ có như vậy mới gìn giữ hoà bình lâu dài, vững bền…
Học giả, triết gia lừng danh của thế giới Arab thế kỷ 14 Ibn Khaldun đã từng đề cao vai trò của khái niệm "Asabiya" đối với một cộng đồng, một quốc gia, một dân tộc. Asabiya chính là "Sức mạnh đoàn kết xã hội" hoặc "Năng lực hành động tập thể phối hợp" để một nhóm người (một dân tộc, một quốc gia, một cộng đồng) gắn kết với nhau, tin tưởng nhau và cùng hành động vì lợi ích chung, thay vì chỉ vì tư lợi cá nhân. Một cộng đồng có asabiya cao sẽ có thể khuất phục được mọi khó khăn, thách thức cả bên trong lẫn bên ngoài. Ngược lại, khi Asabiya suy yếu đến chạm đáy, cộng đồng không còn khả năng hành động tập thể. Sức đề kháng của cộng đồng ấy đã không còn nữa và nó dễ dàng đổ vỡ trước những tác nhân tưởng như vô hại ban đầu.
51 năm qua, chúng ta nói rất nhiều về hòa hợp dân tộc mỗi dịp Tết Hòa bình. Sự hòa hợp ấy phải được biểu hiện trong hành động thực sự của từng cá nhân, trong từng ngày thường chứ không chỉ nhân dịp lễ hay tết nào. Và điều đó cho thấy, nhiệm vụ gìn giữ hoà bình bền vững không chỉ đến từ những bộ máy, cơ quan, tổ chức nào mà nó phải bắt nguồn từ từng cá nhân người Việt bất kể cá nhân ấy đang làm công việc gì, sinh sống ở đâu và nói loại phương ngữ nào.
Minh Hà

Ký ức ngày hòa bình và kỳ vọng kỷ nguyên mới
Giá trị của hòa bình