Bàn về ngôn ngữ pháp quy
LTS: Trong bài phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Quốc hội chiều ngày 4/11/2025 có yêu cầu rằng “Câu chữ trong luật phải ngắn gọn, rõ nghĩa, không đánh đố, không để lại khoảng mờ cho sự lạm dụng hay né tránh”. Phát biểu này đã đi thẳng vào đúng vấn đề của lập pháp và ban hành các văn bản pháp quy ở Việt Nam suốt nhiều năm qua.
Sự khắt khe của gà lôi
Vài tháng trước, một người ở Nghệ An ban đầu bị tuyên 6 năm tù vì mua bán 13 con gà lôi trắng thuộc loài quý hiếm, và may mắn thoát tội sau phiên phúc thẩm nhờ một sự thay đổi trong danh mục phụ lục.
Bỏ qua việc cập nhật danh mục cá thể quý hiếm đã cứu anh ta khỏi tội hình sự, thì Điều 244 Bộ luật Hình sự “Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” quy định rất rõ: đối với cá thể là bò sát, chim thì chỉ cần tham gia mua bán 7 cá thể trở lên là sẽ xử lý hình sự. Rõ ràng trong trường hợp này, luật pháp đã xử lý đúng người, đúng tội, dù tính theo giá trị mua bán, số năm tù anh ta phải chịu dường như là quá nặng.
Tôi cũng có cảm giác này, dù luôn cho rằng mình nhìn nhận pháp luật như thế là sai lầm: không thể đánh giá một bản án bằng cảm tính được. Giá trị giao dịch có thể là nhỏ, nhưng hành vi đã nằm trong khung quy định. Một điều luật đã ghi rõ đến số lượng, thì không thể sai được.
Rốt cục thì điều gì tạo ra sự khác biệt khủng khiếp về cảm giác giữa vụ án gà lôi, có giá trị giao dịch chỉ vài triệu đồng, với những đại án làm thất thoát tài sản nhà nước lên đến hàng chục, hàng trăm tỉ đồng?
Trong đại án Việt Á, cựu Bộ trưởng Chu Ngọc Anh và cựu Thứ trưởng Phạm Công Tạc bị cáo buộc gây thất thoát gần 19 tỉ đồng, nhưng mức án tòa tuyên “chỉ” là 3 - 4 năm tù. Trong vụ nhận hối lộ từ Hậu “pháo”, cựu Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc (cũ) Phạm Văn Vọng bị tuyên 3 năm tù, dù khung của tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ” là từ 5-15 năm tù.
Nếu lật giở lại các đại án liên quan đến các tội tham ô, làm thất thoát tài sản nhà nước, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng… trong vài năm qua, bạn sẽ đọc không ít những bản án kiểu vậy, với giải thích đi kèm thường là thủ phạm đã “ăn năn, hối cải”, “chủ động khắc phục hậu quả”, “có công trạng”…
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định trong Điều 51 Bộ luật Hình sự, gồm 22 mục, và quá nửa trong đó là định tính, thay vì định lượng như đa số các điều luật hình sự khác. Tôi thử trích ra vài mục ở đây để bạn đọc tự đánh giá: phạm tội nhưng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (bạn có lẽ thấy rất quen); người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, công tác… Các chi tiết định lượng đếm không quá một bàn tay, như người phạm tội là phụ nữ có thai, hoặc đủ 70 tuổi trở lên.
Trong phiên sơ thẩm vụ gà lôi, TAND khu vực 5 tỉnh Hưng Yên ghi nhận bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng rốt cục không áp dụng. Trích báo VnExpress ngày 12/8/2025: “Quan điểm của luật sư là vụ án này hoàn toàn có thể chuyển khung hình phạt sang khoản 1, đề nghị án treo do phạm tội chưa gây hậu quả, bị cáo có nhân thân tốt. Nhưng tòa sơ thẩm không đồng ý”.
Tôi không nghĩ các thẩm phán đã sai, nhưng vấn đề có lẽ nằm trong chính Điều 51 Bộ luật Hình sự: 16/22 tiêu chí giảm nhẹ hình phạt là định tính. Tức là các tính từ trong đó hoàn toàn có thể được diễn đạt theo ý chí chủ quan của con người.
Mới đây, Tòa án nhân dân Tối cao (TANDTC) tổ chức lấy ý kiến Nghị quyết Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự trong xét xử tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ, trong đó đề xuất 3 trường hợp phạm tội nhưng có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu:
- Phạm tội nhưng vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh mà không có khiếu nại, tố cáo hoặc đã giải quyết dứt điểm các khiếu nại, tố cáo liên quan theo quy định;
- Không tham nhũng, không gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước, hoặc có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước nhưng đã khắc phục toàn bộ hậu quả;
- Dự án, công trình có sai phạm đã được hoàn thành, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước.
Nếu những cụm từ này đi vào văn bản pháp luật thật sự, có lẽ chúng ta sẽ phải cầu mong cho các thẩm phán giữ được sự chặt chẽ và khắt khe tương tự như trong một vụ án gà lôi. Cứ 7 cá thể trở lên là 6 năm tù, không tranh cãi gì nữa. Tương tự thế.
Phạm An
“Hợp lý, cần thiết, phù hợp”
Tiêu đề của bài báo này thường sẽ không được bất kỳ tòa soạn nào chấp nhận đạt tiêu chuẩn của một bài báo. Nó chỉ gồm 3 tính từ mơ hồ. Nhưng, đây lại là 3 tính từ có trong luật, quyết định số phận nhiều người.
Các tính từ, hay là thuật ngữ mở, xuất hiện trong nhiều văn bản luật. Sau đây chỉ xin kể ra một số trường hợp tiêu biểu và dễ hiểu nhất.
“Hợp lý” là cụm từ xuất hiện trong ngữ cảnh của các luật và nghị định liên quan đến thuế thu nhập doanh nghiệp. Khi tính thuế, doanh nghiệp chỉ được trừ các chi phí phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp lý. Việc xác định chi phí “hợp lý” là nguồn gốc của hầu hết tranh cãi về thuế.
“Cần thiết” là thuật ngữ xuất hiện tới 12 lần trong Luật Đất đai. Đây là ý niệm chi phối các hoạt động thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Nó có lẽ là một trong những ý niệm gây xung đột pháp lý nhiều nhất tại nước ta. Thống kê các năm về tỷ lệ khiếu nại liên quan đến đất đai vẫn thường xuyên chiếm hơn 60% tổng số khiếu nại tại nước ta. Trong đó, phần lớn lại phát sinh từ các quyết định thu hồi đất, hay nói cách khác, từ câu hỏi cốt tử: Việc thu hồi “có cần thiết” hay không?
“Phù hợp” thường xuất hiện trong ngữ cảnh của các luật và quyết định của chủ đề quy hoạch. Việc ban hành các quy hoạch phải phù hợp với các quy hoạch cấp trên, điều kiện kinh tế - xã hội và các quy định khác. Sự phù hợp này do các cơ quan quản lý chuyên ngành tự đánh giá và quyết định.
Chỉ cần điểm danh sơ qua vài lĩnh vực chủ chốt là đã thấy những từ này có quyền lực lớn thế nào đối với số phận của người dân, việc phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh trật tự. Hiển nhiên, khi một vấn đề được quy định bằng thuật ngữ mở, nó sẽ tạo ra quyền diễn giải pháp luật cho các cơ quan hành pháp (và sau đó là tư pháp). UBND một tỉnh có thể xác định mức độ “cần thiết” của việc thu hồi đất, mức độ “phù hợp” của những nét vẽ trên bản đồ quy hoạch, và một chi cục thuế có thể xác định một chi phí có phải là “hợp lý” với hoạt động một doanh nghiệp hay không.
Tất nhiên, sau khi cơ quan hành pháp tự diễn giải pháp luật, họ phải chịu sự giám sát và có trách nhiệm giải trình. Người dân có thể khiếu nại sự diễn giải này lên tòa án. Chúng ta phải chấp nhận các giới hạn của ngôn ngữ - chấp nhận rằng rất thường xuyên, các cơ quan chức năng phải giữ quyền diễn giải – và thực hiện quyền giám sát sau đó.
Cũng hiển nhiên, quyền giám sát có thể đến muộn. Nhiều người vẫn còn nhớ câu nói lừng danh mùa dịch của ông Phó chủ tịch phường Vĩnh Hòa ở Nha Trang cách đây vài năm: “Bánh mỳ không phải thiết yếu”. Ở đây, thuật ngữ mở “thiết yếu” đã cho phép ông, người phụ trách công tác chống dịch, quyền diễn giải (và ông làm việc đó bằng một thái độ rất gay gắt, dõng dạc).
Khi người dân khiếu nại, cơ quan cấp cao vào cuộc, thì thiệt hại đã được xác lập rồi: không chỉ một cậu thanh niên bị chặn lại và quát tháo vì đi mua bánh mỳ; hóa ra phường Vĩnh Hòa đã xác lập quan điểm riêng “bánh mỳ không phải thiết yếu” và dẹp tiệm các lò bánh trên địa bàn, khiến người dân muốn mua bánh mỳ phải tìm cách sang phường khác trong mùa giãn cách. Vị phó chủ tịch sau đó xin thôi chức, nhưng không thống kê được những khó khăn mà quan điểm này đã gây ra cho người dân – đến mức họ phải khiếu nại. Song song đó là thiệt hại khó đo lường về lòng tin của người dân với cơ quan chức năng.
Tương tự, ngay cả nếu cơ chế khiếu nại có đòi được bồi thường cho người dân bị thu hồi đất (trong trường hợp của “cần thiết”); đòi được hoàn thuế cho doanh nghiệp (với tính từ “hợp lý”); hay dừng một quy hoạch đảo lộn cuộc sống người dân (với tính từ “phù hợp”), thì xã hội vẫn phải trả chi phí cho các quyết định này. Thiệt hại luôn được xác lập.
Trên các diễn đàn lập pháp, việc hạn chế sự mơ hồ, loại bỏ bớt những tính từ mơ hồ vẫn là chủ đề tranh cãi năm này qua năm khác. Nhưng chúng ta vẫn luôn phải chấp nhận một thực tế: luật có khoảng mở - cán bộ có quyền tự diễn giải – người dân có quyền giám sát và khiếu nại.
Việc nhìn nhận thẳng thắn rằng mọi chuyện sẽ luôn là một cuộc giằng co có thể sẽ giúp chúng ta cải thiện vấn đề: ngoài cố gắng loại bỏ các tính từ, cơ chế giám sát, phản ánh, khiếu nại và giải quyết tranh chấp cũng cần hoàn thiện liên tục. Cho đến giờ, rất thường xuyên, việc chúng ta vô tình phát hiện được những biến thể của “bánh mỳ không phải thiết yếu” thông qua một phản ánh đơn lẻ trên mạng xã hội, được thuật toán của một nền tảng xuyên biên giới đề xuất với đông đảo người dân, phần nhiều là do may mắn.
Đức Hoàng
Pháp luật rất cần những con số
“Luật pháp còn được dùng để diễn giải chứ không chỉ để xét xử thông thường”. Đó là câu nói nổi tiếng của Lord Mansfield, Chánh án tối cao pháp viện Anh hồi thế kỷ 17. Cơ bản, tôi tâm đắc với tiêu chí luật pháp ấy bởi để đi đến quá trình xét xử, rất cần những diễn giải hợp lý nhằm tránh gây ra những tranh cãi hay thậm chí nặng nề hơn là những oan sai.
Ngay sau khi báo chí đăng tải trích đoạn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm về việc ngôn ngữ pháp luật cần “ngắn gọn, rõ nghĩa, không đánh đố, không để lại khoảng mờ”, tôi được đọc trên fanpage Chính chủ của Thông tin Chính phủ một thông cáo ngắn gọn “Cưỡng ép con học quá sức sẽ bị phạt đến 10 triệu đồng”. Đó là một thông cáo có thể khiến số đông cảm thấy hào hứng khi vấn nạn học sinh bị quá tải đã ngày một trầm trọng hơn suốt nhiều năm qua. Tuy nhiên, nó để lại một khoảng mờ rất tối nghĩa: Thế nào là quá sức?
“Quá sức” là một từ khái quát và không có tính định lượng. Nếu một đứa trẻ vừa từ trường học về tới nhà, đúng vào lúc 18h chiều, và cha mẹ ép nó ngồi vào bàn học một mạch tới 20h tối rồi sau đó ăn tối, nghỉ ngơi, thư giãn thì so với một đứa trẻ về nhà cùng giờ, được nghỉ ngơi, thư giãn, ăn tối rồi sau đó học một mạch từ 20h30 tối cho tới 23h30 đêm, đứa trẻ nào bị ép quá sức hơn? Rất khó có thể so sánh khi hai bối cảnh khác nhau.
Một bên chỉ phải học 2 tiếng đồng hồ, một bên phải học gấp rưỡi thời gian nhưng một bên lại phải học ngay khi mới vừa rời học đường đầy mệt mỏi còn bên kia lại có thời gian thư giãn và thả lỏng như “nghỉ giữa hiệp”. Phân tích theo cách nào cũng là “quá sức” cả nhưng chỉ dẫn nào để không phạm vào cái “quá sức” ấy lại không hề tồn tại. Và nếu mổ xẻ ra, rất có thể mọi đứa trẻ hôm nay đều đang phải học quá sức tùy theo góc quan sát và nhận định của mỗi người.
Và ai là người sẽ phải chịu trách nhiệm nộp phạt 10 triệu đồng kia, nếu như một đứa trẻ bỗng dưng một ngày tố cáo nó đang bị ép học quá sức? Sau một ngày dài ở trường học, nếu khối lượng bài tập về nhà vẫn còn quá lớn, liệu có phải cha mẹ là những cá nhân phải chịu trách nhiệm cho sự học quá sức đứa trẻ hay không? Thông cáo kia không cho biết thêm gì về chi tiết này.
Hàng ngày, chúng ta gặp quá nhiều những thông cáo mơ hồ, mập mờ như thế. Công dân cứ thế chấp nhận nó với tâm thức hoặc là “ta chẳng bao giờ vi phạm quy định này” hoặc “chắc cũng chẳng sao đâu mà?”.
Tính thiết thực của văn bản quy phạm đã mất đi ngay từ khi người dân bật ra suy nghĩ như trên. Và nguy hại hơn, nếu một sự vụ buộc phải mang ra phân xử tại tòa, các mập mờ trong câu chữ của văn bản pháp quy rất có thể sẽ dẫn tới một phiên tòa không thể đắc nhân tâm.
Một câu chuyện khác, cũng đủ có thể để đưa ra làm ví dụ cho sự mơ hồ, thiếu định lượng và rất khó diễn giải trong quá trình xây dựng văn bản pháp luật chính là đề xuất của đại diện Bộ Y tế trong phiên họp Quốc hội gần đây.
Chủ đề được đưa ra là “Nghiên cứu đề xuất bệnh nhân nghèo bị ung thư được hưởng bảo hiểm 100%” và trong đề xuất này, có 3 thông tin chủ đạo: hưởng 100% bảo hiểm, bị ung thư và nghèo. Ở hai thông tin đầu, để minh định chúng là rất dễ dàng. Nhưng ở thông tin thứ 3, thế nào được xem là nghèo lại là một câu hỏi hóc búa. Tại sao không có một định nghĩa rõ ràng, ngắn gọn, quy về thu nhập hàng tháng hoặc hàng năm đi kèm theo thống kê về tài sản sở hữu để có thể thu hẹp trường đối tượng về đúng những người đáng được hưởng ưu đãi nhất? Không có một định lượng, chắc chắn sẽ tạo ra rất nhiều biến tướng đếm được mà cơ bản nhất chính là “kẽ hở luật pháp”.
Phải thừa nhận, ngôn ngữ Việt giàu tính biểu cảm và là một ngôn ngữ thuộc diện rất đẹp đối với văn chương, thi ca song nó chưa đủ chiều sâu logic để thể hiện các quy tắc pháp luật. Nhiều dân tộc trên thế giới cũng gặp khó khăn trong cách thể hiện như vậy và đó cũng là lý do khá nhiều văn bản có tính luật của quốc tế thường được quy ước sử dụng bằng một vài thứ ngôn ngữ có tính chặt chẽ hơn. Tuy nhiên, không phải chỉ vì một nhược điểm như thế mà chúng ta không thể tạo ra các văn bản pháp quy thiếu tính rõ ràng, chặt chẽ, súc tích và dễ hiểu.
Tất cả đều phụ thuộc vào tầm nhìn bao quát, khả năng hình dung tình huống của người chấp bút dự thảo văn bản và người ký quyết định ban hành cuối cùng. Chỉ cần một tầm nhìn tốt và khả năng hình dung tình huống sâu sắc, chắc chắn sẽ tạo ra những văn bản dễ hiểu nhưng đủ chặt chẽ để không tạo điều kiện cho bất kỳ ai lách qua những khe hở nào hẹp nhất. Và tầm nhìn cùng hình dung kia chỉ có thể có được từ chính những cán bộ chuyên trách có năng lực xuất sắc cùng một sự am hiểu nhất định về luật học chứ không phải đến từ những cán bộ có khả năng văn hay chữ tốt.
Các phiên thảo luận tại Quốc hội vẫn thường có những ý kiến tạo ra nhiều tham gia, đóng góp của dư luận mỗi khi một dự thảo nào đó được đưa ra. Cơ bản, tuy là cơ quan lập pháp nhưng không phải mọi đại biểu Quốc hội đều là một luật gia tài ba. Họ đưa ra ý kiến, quan điểm, phương thức một cách phổ quát nhất và nhờ vào tranh luận trước Quốc hội rồi sau đó là sự nhạy bén của những người thiết kế văn bản pháp luật thuộc cơ quan Quốc hội, các quan điểm ấy phải được biến từ chỗ còn định tính thành những gì có thể lượng hóa được. Chính một chặng dài như vậy mới thể hiện rõ được quá trình hoàn thiện luật pháp với những điều luật có sức bền thời gian có thể tính đến hàng thập niên.
Chúng ta vẫn hình dung xưa nay pháp luật chỉ là những câu chữ, nhiều khi lắt léo và rất khó hiểu nhưng thực chất, pháp luật rất cần những con số để lượng hóa nghĩa vụ, trách nhiệm cũng như quyền lợi của mọi người dân có liên quan và từ đó, người dân được diễn giải một cách cụ thể nhất. Có như vậy, người dân mới nhận thức tốt về pháp luật, nắm rõ pháp luật và có tinh thần thượng tôn pháp luật. Bằng không, nếu pháp luật chỉ là những câu chữ mơ hồ, tình trạng mù mờ chung sẽ càng khiến hành vi vi phạm pháp luật dễ xảy ra hơn và thậm chí dễ được bào chữa một cách thiếu tâm phục trong những phiên tòa mà người dân trông mong ở đó là một sự cứng rắn, công bằng của cán cân pháp lý.
Hà Quang Minh

Làm gì để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt?
Tầm nhìn mới và những câu hỏi cũ