Cân bằng giữa bảo mật nghề nghiệp và trách nhiệm công dân
Bộ Công an đã hoàn thiện dự thảo hồ sơ chính sách dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi) để lấy ý kiến đóng góp của các cơ quan, tổ chức và cá nhân đến 7/5. Trong đó có nội dung đáng chú ý liên quan đến trách nhiệm của luật sư khi biết thân chủ đang chuẩn bị hoặc tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Đề xuất này thu hút sự quan tâm của dư luận bởi liên quan trực tiếp đến mối quan hệ đặc thù giữa luật sư và thân chủ, cũng như yêu cầu bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
Theo quy định của khoản 3 Điều 19 Bộ luật Hình sự, người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự nếu không tố giác tội phạm do thân chủ mình đang chuẩn bị thực hiện, đang thực hiện hoặc đã thực hiện đối với các tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng (trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia).
Tuy nhiên, từ thực tiễn áp dụng, Bộ Công an cho rằng, quy định trên bộc lộ những điểm chưa phù hợp. Bởi lẽ, thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng để bào chữa cho thân chủ thì hành vi phạm tội đã diễn ra trước đó, người bào chữa thực hiện nhiệm vụ của mình để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ liên quan đến hành vi thân chủ của họ đã thực hiện trước đó nên không phải chịu trách nhiệm hình sự nếu họ không tố giác tội phạm liên quan đến hành vi này là hợp lý.
Tuy nhiên, đối với những hành vi phạm tội mà thân chủ của người bào chữa chuẩn bị thực hiện hoặc đang thực hiện (phạm một tội mới hoặc tiếp diễn hành vi đã phạm tội trước đó) không thuộc phạm vi nhiệm vụ của người bào chữa nên nếu người bào chữa không tố giác đối với các hành vi này sẽ vi phạm nguyên tắc của pháp luật hình sự “mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời”. Do vậy, không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ về hành vi không tố giác các tội phạm đang chuẩn bị thực hiện hoặc đang thực hiện là không hợp lý.
Từ thực tiễn hoạt động của cơ quan Cảnh sát điều tra, Đại tá Lê Khắc Sơn, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát hình sự cho biết, việc Bộ Công an đề xuất nội dung này nhằm bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật. Việc đề xuất sửa đổi theo hướng quy định trách nhiệm hình sự đối với người bào chữa khi không tố giác tội phạm là nhằm đảm bảo các nguyên tắc tại điểm a, b Khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự.
Cụ thể, luật xác định, mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật. Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội. Người bào chữa cũng như mọi công dân khác, đều phải có trách nhiệm trong phòng, chống tội phạm, nhất là khi họ là người hiểu biết pháp luật, được pháp luật trao cho một số quyền nhất định. Ngoài ra, việc quy định trách nhiệm như trên cũng không tác động đến các quyền của người bào chữa trong vụ án, vụ việc họ đang tham gia.
Dưới góc nhìn nghề nghiệp, luật sư Lê Trung Hiếu, Văn phòng luật sư Thành Vinh cho biết, việc đề xuất thu hẹp phạm vi miễn trừ trách nhiệm hình đối với luật sư, người bảo chữa theo dự thảo nhằm cân bằng giữa đạo đức nghề nghiệp, nghĩa vụ bảo mật thông tin của luật sư với trách nhiệm bảo vệ an toàn xã hội và ngăn chặn tội phạm từ sớm, từ xa theo tinh thần "lấy phòng ngừa là chính" là phù hợp. Đồng thời, việc luật sư thực hiện trách nhiệm như một công dân trong việc tố giác tội phạm là đúng. Tuy nhiên, Luật sư Lê Trung Hiếu cũng chia sẻ về việc làm thế nào để xác định hành vi của thân chủ có đủ điều kiện là hành vi phạm tội hay không, và cần phù hợp với một số luật hiện hành..
Có thể thấy, đề xuất của Bộ Công an không chỉ nhằm hoàn thiện khung pháp lý mà còn hướng tới mục tiêu lớn hơn nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm ngay từ giai đoạn manh nha. Dự thảo hiện đang trong quá trình lấy ý kiến, những đóng góp từ các chuyên gia, luật sư và dư luận xã hội sẽ là cơ sở quan trọng để hoàn thiện chính sách, bảo đảm hài hòa giữa quyền con người, quyền công dân và yêu cầu giữ vững an ninh, trật tự trong tình hình mới.
Theo quy định của Điều 19 Bộ luật Hình sự hiện hành về không tố giác tội phạm:
- Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật này.
- Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
- Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.
Theo điều Điều 390: Tội không tố giác tội phạm:
- Người nào biết rõ một trong các tội phạm quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 14 của Bộ luật này đang được chuẩn bị hoặc một trong các tội phạm quy định tại Điều 389 của Bộ luật này đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
- Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thế được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.

Bộ Công an đề xuất các chính sách dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi)