Lo cho dân sau nạn lụt năm Nhâm Thìn

Thứ Hai, 12/01/2026, 08:49

Mùa thu năm Nhâm Thìn 1832, miền Bắc bị lũ lụt, mùa màng thất thu, dân nghèo xiêu tán, nhiều người dân tỉnh Hà Nội phải xiêu dạt kiếm ăn vào Thanh Hóa hay ra Hải Dương, Yên Quảng. Triều đình Vua Minh Mạng đã tiến hành nhiều biện pháp cứu trợ.

Thời đó, Hà Nội nằm trong tỉnh Hà - Ninh (Hà Nội và Hà Nam, Ninh Bình), nên trận lụt gây vỡ đê ở Duy Tiên tới 4 đoạn, đê sông Lương nhiều đoạn sụt lở khiến sử triều Nguyễn, bộ "Đại Nam thực lục" mô tả "không ra hình thể đê nữa". "Các huyện Thanh Oai, Sơn Minh (sau là Ứng Hòa), Hoài An (Hoài Đức), Thanh Trì, Thượng Phúc và Phú Xuyên, nước mưa ở đồng ruộng cùng nước sông Hát Môn, tràn qua Phù Giang đổ xuống; phía dưới thì nước sông Nhị Hà (tức sông Hồng) theo cửa sông Điệp tràn ngược lên trước mắt mênh mông, không bờ bến", bộ sử này miêu tả.

Lo cho dân sau nạn lụt năm Nhâm Thìn -0
Cảnh sinh hoạt tại thành Thanh Hóa thời xưa. Ảnh tư liệu

Mùa xuân năm Quý Tỵ, niên hiệu Minh Mạng thứ 14 (1833), triều Nguyễn có đợt tuyển lính ở Bắc kỳ, thì quan tỉnh Hà Nội báo về triều đình rằng, 6 huyện Kim Bảng, Duy Tiên, Thượng Phúc, Phú Xuyên, Sơn Minh, Hoài An, vì mùa thu năm trước bị lụt, nên dân cư phần nhiều tản đi nơi khác, do đó xin được hoãn đến sang năm sẽ duyệt tuyển. Nhà vua đồng ý với đề xuất này.

Phát chẩn cứu đói

Có thể hiểu thêm về thảm cảnh của người dân vùng lụt qua lời tâu của viên Hộ lý Tuần phủ Thanh Hoa (tức Thanh Hóa ngày nay) là Nguyễn Đăng Giai rằng: "Từ tháng 8, tháng 9 năm ngoái đến nay, dân đói Bắc Kỳ, nhiều người vào Thanh Hóa kiếm ăn, có kẻ chết ở dọc đường. Tình cảnh ấy, chính mắt thần trông thấy, thật không đang tâm!".

Vua Minh Mạng liền sai phát tiền kho ra 1.000 quan, gạo 2.000 phương (mỗi phương gạo bằng 30 bát), để phát chẩn cho những người già yếu, đàn bà, con trẻ và những người tàn tật không có chỗ kêu than vào đâu.

Hộ lý Tuần phủ tỉnh Ninh Bình là Nguyễn Văn Mưu cũng dâng sớ tâu rằng: "Dân xiêu dạt các tỉnh Hà Nội, Nam Định dắt díu nhau đi kiếm ăn có đến 500-600 người, đều mình gầy như hạc, sắc xanh như rau".

Vua động lòng thương, sai lấy ở kho ra 500 quan tiền, 1.000 phương gạo, theo nhật kỳ mà phát chẩn cho. Đồng thời, sai chuyển vận gạo kho ở kinh ra các tỉnh Thanh Hóa, Ninh Bình, Hưng Yên, Hà Nội để phát chẩn cho dân đói.

Sau đó, nhà vua dụ Bộ Hộ rằng: "Lệnh cho thương trường phát ngay 20.000 hộc thóc xay thành 20.000 phương gạo, giao cho các thuyền Thanh Hóa, Nam Định chở đá vào kinh, khi quay về thì lĩnh gạo chở cho Thanh Hóa 4.000 phương, Ninh Bình 3.000 phương, Hưng Yên 6.000 phương, Hà Nội 7.000 phương, để Tổng đốc và Tuần phủ bán hạ giá cho dân. Còn trong đám dân đói xiêu dạt, những người già, yếu, mồ côi, thơ ấu, tàn tật, không biết kêu vào đâu được, thì lấy ngay gạo ấy phát chẩn cho. Lại nghĩ: việc cứu tế không nên chậm trễ, vậy sai xay thóc đến đâu, chở đi đến đấy, chớ đợi đủ cả đoàn thuyền mới đi".

Bình ổn giá gạo

Dù những người dân nghèo đói xiêu dạt, già yếu mồ côi được phát gạo chẩn tế, nhưng với dân thường chưa đến nỗi mất sản nghiệp, thì bị ảnh hưởng bởi giá gạo tăng vọt.

Sử ghi: "Tháng 2, giá gạo tỉnh Bắc Ninh đắt vọt lên, thự Ngự sử là Lê Hữu Đức và Lê Đức Tiêm tâu xin phái người dò hỏi tình hình dân gian để liệu phương cứu chữa. Vua bèn cho đi và dụ rằng: "Bắc kỳ bỗng gặp tai biến, ta nghĩ đến dân, lòng những đau đớn! Đối với các tỉnh như Nam Định, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, nhiều lần đã phát chẩn và cho vay nhiều đến hàng mươi vạn không tiếc chút nào. Duy có một hạt Bắc Ninh, chưa thấy tâu báo, tình hình khó kiếm ăn của dân còn đương làm ta phấp phỏng lo nghĩ. Lũ ngươi đi chuyến này, nên dò xét dân gian, nếu quả đói kém, thì chuẩn cho hội đồng với quan tỉnh, lấy ra 30.000 hộc thóc kho, tùy tiện bán rẻ hoặc cho vay!".

Lê Hữu Đức sau khi đi đến nơi, tâu về rằng: "Dân gian dẫu chưa đến đói kém, nhưng gặp lúc giáp hạt này những người túng thiếu cũng có vẻ khó khăn về lương thực. Lại nữa, những dân đói ở tỉnh bên phải xiêu dạt đi kiếm ăn cũng nhiều". Vua Minh Mạng bèn xuống dụ cho lấy ra 20.000 hộc thóc kho bán hạ giá cho dân. Ai muốn vay cũng được vay ngay. Lại cho lấy ra 1.000 quan tiền và 1.000 phương gạo để phát chẩn cho những dân xiêu tán đến ăn xin.

Cũng tháng đó, Thự Tổng đốc Định - Yên (cai quản Nam Định và Hưng Yên) là Đặng Văn Thiêm tâu nói: "Vụ đông năm ngoái, tỉnh Nam Định nộp tiền và thóc thuế còn thiếu, mà trong hạt, gạo kém dân khó kiếm ăn. Vậy, xin gia hạn cho đến vụ chiêm, sẽ thu cả một thể". Nhà vua phê rằng: "Thóc ở kho còn phải bỏ ra để phát chẩn và cho dân vay, nữa là ở trong dân gian? Vậy, chuẩn y cho làm theo lời xin".

Thự Tổng đốc Hải - Yên (Hải Dương - Yên Quảng) Nguyễn Công Trứ thì tâu rằng: "Từ tháng Chạp năm ngoái đến nay, dân đói ở các tỉnh Hà Nội, Hưng Yên và Nam Định, đến kiếm ăn ở tỉnh Hải Dương có đến hơn 3.000 người, nên giá gạo ngày càng cao".

Vua dụ bảo rằng: "Trước đây, các tỉnh luôn bị bão, lụt, lúa má thiệt hại khá nhiều. Ta xuống dụ thăm hỏi, lại đem thóc kho hàng mấy vạn, để phát chẩn, bán rẻ và cho vay, tưởng những dân nghèo túng cũng đã tạm sống yên mà làm ăn rồi. Nay hạt ngươi lại có nhiều người xiêu dạt đến kiếm ăn như thế, há nên yên lặng ngồi nhìn? Vậy, hãy lấy 1.000 quan tiền, 2.000 phương gạo để phân phát cho ngay!".

Kiếm việc cho dân

Cũng tháng đó, Nam Định đang xây đắp lại thành, dùng binh lính tỉnh ấy và huy động thêm lính các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương hơn 2.000 người để làm việc. Tổng đốc Đặng Văn Thiêm trông coi việc này, nhân đó tâu vua rằng: "Trong tỉnh có nhiều dân nghèo đến kiếm ăn, xin bày việc cho làm, trả công để thay phát chẩn. Những người hơi khỏe, thì thuê gánh gạch đá, những người gầy yếu thì liệu phát chẩn bằng số thóc còn thừa sau khi đã bán rẻ hoặc cho vay". Vua cho lời tâu là phải.

Còn ở Thanh Hóa, Hộ lý Tuần phủ Nguyễn Đăng Giai cũng tâu về triều: "Bày cho dân làm việc để thay phát chẩn, cũng là một cách cứu đói. Bờ hào ngoài thành và cái cầu đá ở đường cái quan chưa từng xây đắp, cần dùng đá núi khá nhiều. Vậy, xin quyền đặt một sở dưỡng tế lớn, tập hợp các dân xiêu dạt lại, chọn lấy những người khỏe mạnh, thuê đi lấy đá. Và, đồn Thủy bảo bị nước sông chảy xói, nên đào cảng sông (từ 2 xã Phú Cốc, Thọ Hạc đến xã Nam Ngạn ra sông lớn, dài 574 trượng trên rộng 6 trượng, dưới rộng 4 trượng, sâu 7 thước) để dời đồn Thủy bảo ra chỗ khác. Xin thuê người làm công luôn thể, cấp cho tiền và gạo để họ có cái nương nhờ". Điều này cũng được nhà vua ưng chuẩn.

Khi đó, viên Thự Vệ úy vệ Loan giá là Tôn Thất Tường từ Thanh Hoa về Kinh, nhà vua vời vào để hỏi tình trạng dân đói. Tôn Thất Tường tâu rằng: "Dân đói đến kiếm ăn rất nhiều, mà tiền và gạo để phát chẩn và cho vay sắp hết!". Nhà vua liền dụ Hộ lý Tuần phủ Nguyễn Đăng Giai hội đồng với án sát Vũ Tuấn, lấy ở kho ra 1.000 quan tiền, 2.000 phương gạo để tiếp tục phát chẩn cho dân.

Đúng lúc ấy, thì có sớ của Nguyễn Đăng Giai gửi về tâu rằng: "Công việc đào sông ngòi còn nặng nề, mà số dân xiêu dạt có gần 10.000 người; chọn lấy hạng có thể làm việc chỉ được trên dưới 4.000 người nay đương lúc giáp hạt những dân nghèo túng trong tỉnh có ai đến xin làm mướn thì cứ theo lệ phát cho tiền và gạo (mỗi người 1 ngày tiền 30 đồng, gạo 1 uyển, tức đóng được 1 bát)".

Vua xuống dụ rằng: "Lũ dân kia ai chẳng là con đỏ của triều đình, nếu cho đi làm việc công, để nhờ thóc kho mà ăn thì không những công việc nhà nước chóng xong, mà thóc gạo lưu thông, nhân dân cũng dễ dàng để sống. Đó thực là lợi ích lớn cho việc quốc kế dân sinh, cốt ở lũ ngươi làm như thế nào đó! Vả lại, Nguyễn Đăng Giai và Vũ Tuấn, các người đã thể theo ý ta, chẩn cấp dân đói, nuôi sống hàng vạn người. Nhiều lần xếp đặt, đều biết đồng lòng hiệp sức cùng làm việc nên việc cứu chữa có phương pháp, có thể gọi là hết lòng vì nước. Vậy, truyền chỉ khen ngợi".

Sau đó, vua dụ Bộ Hộ rằng: "Nên ra lệnh cho các Tổng đốc, Tuần phủ các tỉnh Hà Nội, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên: ngày nào chỉ dụ này đến thì đều nên xét xem mọi công việc xây thành đào hào ở trong hạt mình, không kể việc đó có cần kíp hay không, chẳng hạn như đóng và nung gạch ngói, khuân đá, gánh đất, phàm việc gì có thể sắp xếp cho làm để thay phát chẩn thì bỏ ngay của kho mà làm thuê theo giá thỏa thuận (mỗi người 1 ngày trả gạo 1 uyển, tiền 20 đồng), đến ngày lúa chiêm chín thì thôi".

Sau đó vua lại dụ các Tổng đốc và Tuần phủ các tỉnh Hà Nội, Ninh Bình, Bắc Ninh, Hải Dương, Sơn Tây và các quan Đê chính: Xét xem các đê lớn, nhỏ ở trong hạt, hễ chỗ nào nên sửa chữa bồi đắp, thì cũng cho phép lấy tiền và gạo thuê dân làm.

Nhà vua khen các quan tỉnh Thanh Hóa rằng: "Tỉnh Thanh mùa đông năm ngoái được mùa làm cho dân nghèo tỉnh khác dắt cõng trẻ đến kiếm ăn, nhiều đến hơn 10.000 người. Quan địa phương biết thể theo ý ta, tính trước sẵn sàng mọi việc đâu ra đấy. Dân đói nhờ được sinh sống, mà thuộc hạ cũng được nhờ nhiều. Việc làm thật có điều khả quan. Nguyễn Đăng Giai và Vũ Tuấn dẫu trước đã được khen ngợi, chưa đủ để biểu dương tài năng. Vậy, giao bộ theo ưu hạng bàn thưởng".

Nhờ các việc phát chẩn, bán rẻ thóc gạo hay cho vay, tạo công việc cho dân xiêu tán, mà sang năm Giáp Ngọ, 1834, mưa thuận, lúa tốt, được mùa, nhân dân yên ổn trở lại. Vua Minh Mạng nghe tin, truyền rằng: "Lòng ta rất được vui vẻ an ủi. Nhưng, ta còn lo rằng hương thôn phần nhiều còn có thói gặt trộm lúa, gây nên đánh nhau có án mạng. Những tệ ấy phải nên sửa bỏ". Rồi sai Bộ Hình ra lệnh nghiêm việc bảo vệ hoa màu, thóc lúa của dân.

Nhà vua lại chuyển sức cho các phủ huyện sở tại: "Từ nay đến mùa lúa chiêm chín, quan phủ, quan huyện nên nhân tiện, thân đến các nơi đồng ruộng, đem những ý chính trên đây đến đâu hiểu dụ đấy, khiến cho dân mọn nơi làng mạc đều biết cái ý tha thiết của ta mừng được cùng dân vui năm được mùa". 

Lê Tiên Long
.
.