Tôi là một người mẹ đau khổ

Thứ Ba, 06/03/2007, 10:30
Lúc này đây, giao thừa của năm Đinh Hợi đang đến gần. Bàn thờ nhà tôi đã dâng hương hoa tế lễ thần linh và gia tiên để đón mừng năm mới. Giao thừa mọi năm, tôi sắm lễ soạn sửa ban thờ, chồng tôi là người làm lễ cúng tế. Vợ chồng tôi ngoài cúng gia tiên và thần linh chỉ có một ước nguyện duy nhất là làm sao để tôi đón được các con tôi trở về.

Kính thưa các anh, các chị trong Tòa soạn Báo ANTG Cuối tháng!

Hơn 50 năm đã trôi qua, tôi chỉ có một ước nguyện ấy, chồng tôi đã cõng thêm ước nguyện của tôi vào ước nguyện của ông ấy hơn 10 năm nữa, kể từ ngày ông sống cùng với tôi, thế mà cái ước nguyện kia với thời gian đã lụi tàn trong giấc mơ trần ai của tôi mà chồng tôi không thể nào theo đuổi cùng được nữa vì ông đã từ giã tôi, từ giã nỗi đeo đẳng đời tôi để trở về thế giới bên kia.

Giao thừa năm nay chỉ còn lại một mình tôi trong căn nhà hoang hoải. Nén hương thần linh đã thắp, tôi giờ cũng đã trĩu mệt... không mong đợi điều kỳ diệu có trong những câu chuyện thần tiên mang đến là các con tôi sẽ trở về bên tôi.

Người đàn bà cô độc, người mẹ khổ đau là tôi giờ đã không còn mơ ước nữa. Tôi chong đèn ngồi viết nên câu chuyện đời mình gửi các anh, các chị. May chi, chuyện của tôi đăng báo. Các con cháu tôi đọc được, có thể nó sẽ động lòng trắc ẩn mà đoái thương tới tôi.

Chuyện của tôi là một câu chuyện đời éo le và buồn khổ.

Không phải vì tôi gặp nhiều ái tình trắc trở, cũng không phải có ai đó lừa gạt đọa đày tôi, nhưng tôi còn đau khổ hơn gấp nhiều lần bởi đời tôi không có phúc, có sinh nở mà không làm mẹ. Có con cái trưởng thành mà không có phúc phần hiếu nghĩa.

Tất cả là tại tôi, hay tại định mệnh khắc nghiệt, tại số trời xui đẩy nên cơ sự này.

Tôi quê ở Nghệ An, chiến tranh tôi theo gia đình đi sơ tán một làng ở Hà Tĩnh. Tôi tham gia lớp bình dân học vụ, rồi kết duyên cùng thầy giáo của lớp là một cán bộ Tòa án ở Nghi Xuân và ở lại làng Lam Kiều.

Vợ chồng tôi sống với nhau được 6 năm, tôi sinh được hai cháu gái. Thế rồi gia đình chồng tôi gặp nạn bị quy sai địa chủ, bố mẹ chồng phiền muộn mà chết.

Chồng tôi lo nghĩ nhiều, mắc bệnh đau dạ dày mãn tính. Thời xưa thuốc thang không có, bài thuốc của ông lang vườn là cứ giã vỏ hàu (con hàu sống ở biển, một loại nhà sò) ra mà uống. Uống vỏ hàu mãi, cho đến khi chồng tôi suy kiệt, bục dạ dày mà chết.

Đó là một đêm rằm tháng 7, bên xác chồng, người đàn bà là tôi mới 24 tuổi, trên tay là đứa con gái 5 tuổi và đứa thứ 2 mới tròn 8 tháng kiệt sức và đói lả trong túp lều rách nát ven sông Bùi.

Chồng mất quá sớm, gia cảnh đói rách nheo nhóc, tôi lại không biết làm ruộng, quầy hàng xén đã đội nón ra đi để thuốc thang cho chồng, trong lòng tôi hụt hẫng, mấy lần tôi tính dắt con xuống sông Bùi tự tử. Thế rồi chính ông già chèo đò ở ven sông Bùi đã khuyên tôi phải sống để nuôi các con, ông bày cho tôi cách gửi lại hai đứa con cho người làng nuôi, tìm cách về lại quê mình kiếm nghề nghiệp ổn định rồi quay lại đón con.

Tôi gạt nước mắt đem con gửi nhờ hai người đàn bà có hoàn cảnh đơn độc éo le là bà Hồng và cô Tam ở làng TK, TH nuôi hộ rồi xuống đò ngược về quê.

Người anh trai của tôi đang dạy học ở Hà Nội, thương hoàn cảnh éo le của tôi đã về đưa tôi ra Hà Nội và giúp cho tôi có một công ăn việc làm ổn định. Có được chốn nương thân, 8 tháng sau khi tôi dứt lòng gửi con ở quê để cất bước ra đi, tôi trở về quê nhà với hy vọng khấp khởi từ nay đã có thể đón được hai con về với mình để nuôi nấng, dạy bảo chúng.

Than ôi, cuộc đời với tôi thật đau đớn và bất hạnh. Khi tôi trở về, vì hiếm muộn và cô đơn, bà Hồng và cô Tam đã yêu thương các con của tôi như chính con dứt ruột đẻ ra của họ. Và sợ một ngày tôi trở về và đón các cháu đi mất nên bà Hồng và cô Tam đã nói với các con tôi rằng tôi đã bỏ chúng mà ra đi, rằng tôi là một người mẹ tàn ác, nhẫn tâm vứt bỏ con thơ khi còn đỏ hỏn để rảnh rang ra đi, rằng tôi là một người mẹ hủi, một người đáng sợ, không xứng đáng được gọi bằng mẹ. Khi tôi trở về, các con nhìn thấy tôi đều khóc thét lên và chạy bám lấy mẹ nuôi của chúng.

Những đứa trẻ như tờ giấy trắng, người lớn gieo lên đó bao nỗi ác cảm, sợ hãi về mẹ của chúng. Hai đứa con tôi không chịu nhìn tôi, không cho tôi bế và hai cánh cửa từ bi của gia đình hai người đàn bà tôi mang con đến gửi đã vĩnh viễn khép chặt trước tôi.

Tôi gần như phát điên phát dại, đi kêu cứu khắp nơi, van vỉ lòng nhân từ ở hai người đàn bà kia mà không thể.

Vì công việc không thể bỏ được, với lại những năm tháng chiến tranh đường sá đi lại vất vả cực khổ, nhưng năm nào tôi cũng xin nghỉ phép về thăm các con và van xin lòng từ bi của những người đàn bà đã thay tôi nuôi các con tôi lớn lên. Nhưng lòng ích kỷ của tình mẫu tử, hai bà mẹ nuôi nhất quyết không trả lại con cho tôi.

Tôi buộc lòng phải làm đơn thưa kiện ra Toà án huyện NX. Ngày đó do ấu trĩ, do sơ suất, tôi đã không có giấy tờ gì để thể hiện rõ tôi chỉ gửi con thôi chứ không phải là cho hẳn con của mình.

Trước toà, hai người đàn bà kia đã đưa ra những bằng chứng hùng hồn để chứng minh tôi là một người mẹ vô lương, dứt bỏ các con còn đỏ hỏn cho những người đàn bà khác và từ chối quyền làm mẹ nuôi con trong lúc khó khăn, vì vậy bây giờ tôi không có quyền gì để nhận lại các con của mình nữa.

Toà không thể xử cho các con trở về với tôi, mà chỉ có thể khuyên những người đàn bà vì lòng nhân từ cho các con trở về và đi lại với mẹ đẻ của chúng.

Tôi đã mất hết hy vọng, bởi hai người đàn bà kia đã không tha thứ cho tôi vì tôi đã kiện những ân nhân của mình ra toà. Nhưng vì muốn đòi lại các con, tôi đã buộc lòng phải làm vậy.

Nỗi đau mất các con đã làm cho tôi hoá đá trước tất cả những cơ hội tình cảm riêng tư, mặc dù lúc đó tôi còn trẻ. Thế rồi, gần chục năm sau, tôi mới đồng ý đi bước nữa nhưng cũng chỉ vì khao khát muốn đòi lại các con của mình, tôi đã chọn lập gia đình với một cựu cán bộ tù Côn Đảo.

Lúc đó, tình yêu với các con mãnh liệt và choán ngự hết tất thảy, tôi đã tâm sự với chồng tôi về nỗi éo le, và thú nhận con tim tôi từ lâu vì nỗi đau mất con nên đã hoá đá, tôi nói với chồng tôi là em bằng lòng lấy anh vì hy vọng tiếng nói của anh có trọng lượng, anh sẽ đưa được các con em trở về, lúc đó may ra em mới hạnh phúc được.

Chồng tôi một phần vì yêu tôi, vì thương tôi nên đã hứa chắc chắn anh sẽ cùng tôi thuyết phục để người ta cho tôi nhận lại con.

Thế nhưng ngày nối ngày, năm tháng nối năm tháng, các con của tôi trở thành những bà nông dân thất học lam lũ và nghèo khổ. Mỗi đứa đẻ tới 9-10 đứa con. Tất cả chúng tuyệt nhiên đều không nhìn tôi và không chịu nhận tôi là mẹ, ngay cả khi những người mẹ nuôi của chúng đã già, đã không còn đủ uy lực để kiểm soát chúng nữa.

Có thể trong cõi tăm tối đầy tủi giận và hờn ghen của chúng, tôi là một người mẹ vô lương tâm đã bỏ rơi chúng ngay khi còn đỏ hỏn. Chúng vĩnh viễn không thể tha thứ cho tôi, vĩnh viễn trong trái tim chúng, tôi không có một vị trí nhỏ nhoi nào cả.

Hơn nữa, những người mẹ nuôi của chúng đã căm ghét tôi, thù hận tôi vì tôi trở về và đòi tước đoạt trong tay những người đàn bà khốn khổ kia những thiên thần hạnh phúc mà tôi đã trao cho họ lúc tôi túng quẫn nhất. Những thiên thần ấy đã giúp họ vui sống.

Lẽ dĩ nhiên những đứa con của tôi sẽ đứng về những người mẹ đã có công nuôi dưỡng chúng. Dù tôi có ăn trắng mặc trơn, dù tôi có sung sướng gấp bội phần so với cuộc sống cực nhọc và lam lũ của chúng thì chúng cũng không cần.

Sự tủi hận của tuổi thơ hai đứa con mồ côi của tôi đã làm cho chúng trở nên lạnh lùng sắt đá, chúng không thể tha thứ cho tôi đã bỏ rơi chúng dù tôi buộc phải thế. Cũng có thể, do tôi bỏ các con tôi lúc chúng còn non nớt quá, chúng lớn lên bên mẹ nuôi và không ai có thể thay thế được hình ảnh mẹ trong tim các con tôi.

Chúng chỉ có một người mẹ duy nhất, cho dù người đó không sinh ra chúng, nhưng sự nuôi dưỡng đã đủ để đặt nên một nền móng vững chãi nhất.

Tôi chẳng còn biết trách ai cả. Nay mai thôi, rồi tôi cũng sẽ nhắm mắt xuôi tay về với cõi vĩnh hằng. Tôi, một bà già cô độc trong căn nhà nhỏ giữa chốn Hà thành không lúc nào thôi mơ về những đứa con. Có lẽ, một ngày nào đó tôi sẽ chết khô trong căn nhà lạnh vắng này mà chưa bao giờ nghe được tiếng mẹ ơi từ hai đứa con mà tôi dứt ruột đẻ ra chúng.

50 năm qua, nhớ con nhớ cháu, năm nào tôi cũng về quê thăm chúng, lại vẫn lén từ xa, vì có đến nhà chúng cũng chẳng nhận, chẳng tin tôi là mẹ thật, bà thật của các con cháu tôi. Chúng đã có một cuộc sống ổn định, dù vất vả, dù lấm láp thì đó cũng là cuộc sống của - chính - chúng nó, suốt bao nhiêu năm nay đã bình yên như thế, không gì có thể thay đổi, và không ai có thể thay đổi được.

Tôi vẫn tin vào câu nói có phúc ắt sẽ có phần, nhưng tôi đã chờ đợi mãi, và đó có lẽ là cái giá phải trả, sự trừng phạt lớn nhất cho những người mẹ chỉ vì một phút yếu đuối mà phải bỏ con cho người khác nuôi hộ như tôi.

Tôi không cầu xin các con tôi phải tha thứ cho tôi vì mãi mãi tôi là người mẹ có lỗi với các con. Chỉ mong nếu các con đọc được những dòng chữ này, các con sẽ hiểu mẹ đã đau khổ và bất hạnh đến nhường nào, đã giày vò biết nhường nào.

             Kính thư

                                      NTP

Lời của Ban Biên tập:

Thưa bà NTP! Xin bà chớ quá đau buồn mà bi quan, chán nản. Bà cũng không cần phải cầu xin các con bà hay bất kỳ ai tha thứ cho bà, bởi lẽ 50 năm qua bà đã phải chịu nhiều đau khổ, đó chính là cái giá của cuộc đời bà phải trả.

Giờ đây xin bà hãy thanh thản. Các con bà giờ đã trưởng thành, con đàn cháu đống. Dòng giống của bà không bị mất đi mà đang ngày một sinh sôi nảy nở mà bà đang tận mắt nhìn thấy điều đó chẳng làm cho lòng bà nhấm nháp dư vị ngọt ngào của hạnh phúc chăng.

Những năm tháng trên cõi đời này ngắn lắm nhưng cũng đủ dài cho mỗi chúng ta sống hoàn tất một cuộc đời.

Bà đã sống trọn vẹn với chính cuộc đời bà mà không phải ân hận. Nếu các con cháu bà không nhìn mặt bà, không nhận bà là mẹ, thì họ đã chưa hoàn tất được cuộc đời mình. Bà cũng đừng buồn. Vì nỗi buồn không thay đổi được số mệnh, mà chỉ hủy hoại bà hơn. Các con bà sẽ phải trả lời trước lương tâm mình, sẽ phải đối mặt với chính mình. Nếu các con bà có tìm một biện pháp để trả thù bà là chối bỏ bà như hiện nay thì bà hãy để cho chúng được làm vậy. Có thể như thế chúng mới thanh thản hơn, tình yêu thương trong các con bà mới trở lại, để chúng cảm thấy yên lành hơn, mạnh mẽ hơn trước cuộc đời. Xin bà hãy bớt muộn phiền

.
.