Chào bạn!      
Trang nhất > An Ninh Thế Giới Cuối Tháng > Nhân vật
Sau 30/4/1975, họ đã sống như thế
10:00, 12/06/2008

Nhà văn, có những người bước vào tuổi 70 vẫn tiếp tục cuộc sống của một người lính. Sống, nghĩ và viết! Có những người mãi đeo đuổi những đề tài chiến tranh cách mạng. Nhưng có những người tiệm cận gần hơn với đời sống hôm nay...

Năm tháng đắng cay hơn, năm tháng ngọt ngào hơn

Đã có một thế hệ những người lính bước vào cuộc chiến ngay sau khi rời ghế trường phổ thông. Họ ra đi từ những ngôi làng nhỏ. Họ viết văn bằng những cảm nhận thành thật, những trang viết khét mùi thuốc súng. Một thế hệ những người viết gian khổ nhưng hồn nhiên. Họ đã tạo nên những tác phẩm có giá trị lớn trong việc động viên đồng đội mình tiếp tục tiến lên trong cuộc chiến ngày càng trở nên thác lũ và khốc liệt. Họ đã viết bằng một bản năng ngọt ngào nhất. Những trang viết không vụ lợi, đếm đong...

Họ là những người lính. Và họ viết về những người lính, viết về chính mình. Chiến tranh trong những trang viết ấy có phần bi tráng.

Họ là những người lính của một thế hệ mà cả xã hội cùng hướng ra tiền tuyến. Họ được đào luyện để vượt qua những bức tường lửa, trở thành những con người kiên cường hơn bình thường, mãnh liệt hơn bình thường để đáp ứng những trận chiến ác liệt hơn bình thường. Họ là những người tinh nhuệ nhất. Điều ấy đã được miêu tả nhiều trong những trang viết về người lính, trong bề dày văn học cách mạng suốt nửa thế kỷ.

Từ trái sang: Các nhà văn Nguyễn Khải, Nguyễn Khắc Trường, Trịnh Đình Khôi, Trần Đăng Khoa, tại Đại hội Nhà văn lần thứ 5/1995.

Họ được đào luyện như người ta đào luyện những quả tên lửa. Cả xã hội mong chờ họ như mong chờ những quả tên lửa bay cao nhất, trúng đích nhất. Trong trái tim của họ cũng mang khao khát của những quả tên lửa, bay cao và bay hết mình. Không ai dự liệu được những quả tên lửa ấy sẽ phóng ra sao. Rồi chúng sẽ tiếp đất thế nào...

Những người lính đã chỉ có một mục tiêu phía trước, đã không dự liệu được ngày trở về. Họ không nghĩ được những chuyến tiếp đất. Và có những người đã bị từ trường của chiến tranh vây bủa khi cuộc chiến đã kết thúc. Những ngỡ ngàng, những bi kịch, những nỗi đau ngày hậu chiến là có thật. Không phải ai cũng có thể "hạ cánh" để hoà nhập với đời thường.

Như nhân vật trong "Mùa lá rụng trong vườn" của Ma Văn Kháng, như hàng loạt những người lính trong "Phố", "Ăn mày dĩ vãng"... của Chu Lai... rất nhiều người lính cừ khôi trên chiến trường bỗng ngơ ngác trong đời thường. Họ đem cuộc sống trong quân ngũ, kỷ luật của người lính vào trong cuộc sống mới. Nhưng lạc lõng. Và những đổ vỡ trong cuộc sống đã diễn ra. Người lính cầm bút cảm nhận rõ điều ấy. Họ đã viết, trong cả đau đớn, ngậm ngùi và thấu hiểu. Không phải ai cũng rời khỏi ký ức ấy để tiếp tục hành trình của những ngày sau dấu mốc chiến thắng 30/4/1975.

Nhà văn cũng vậy. Có những người bước vào tuổi 70 vẫn tiếp tục cuộc sống của một người lính. Sống, nghĩ và viết! Có những người mãi đeo đuổi những đề tài chiến tranh cách mạng. Nhưng có những người tiệm cận gần hơn với đời sống hôm nay. Cuộc sống đang diễn ra, đổi thay liên tục, những giá trị riết róng được nhận định và các thế hệ đi tìm giá trị của riêng mình. Dù viết ở đâu và viết về điều gì, có thể không trực diện về chiến tranh, nhưng chất lính vẫn phả rất mạnh trên từng con chữ mà họ đang viết...

Nhà văn Khuất Quang Thụy: Vẫn miệt mài "đối chiến"

Đến giờ nghe giọng Khuất Quang Thụy vẫn nhận rõ anh là người của xứ Đoài. Anh là một người nhà quê chính hiệu. Nên không lạ khi mảng đề tài mà anh thành công là người lính và nông thôn. Bước vào năm thứ tám của thế kỷ XXI, nhà văn khoác áo lính này vẫn thủy chung với đề tài chiến tranh cách mạng. Anh đang viết tiếp một cuốn tiểu thuyết nói về cuộc đối đầu giữa đơn vị anh và một sư đoàn không lực của Việt Nam cộng hoà. Anh đặt tên cho cuốn tiểu thuyết của mình có tên "Đối chiến".

- Các nhà phê bình đã làm một công việc, đó là nhận định về hai giai đoạn sáng tác của anh. Nhưng nếu lấy mốc dấu là ngày 30/4/1975 thì trước đó và sau này, anh thấy văn của mình có gì là đồng nhất và có gì đổi thay?

- Trước năm 1975, tôi viết truyện ngắn, ký và phóng sự, một số tác phẩm được nhớ đến như "Lửa và thép". Tôi vào bộ đội năm 1967, gắn bó với Sư đoàn Đồng Bằng đến ngày giải phóng. Chúng tôi có mặt ở những nơi chiến trường ác liệt nhất. Từ đường 9 - Nam Lào cho đến Tây Nguyên, Đông Nam Bộ...

Trước năm 1975, không chỉ riêng tôi mà các nhà văn phải hy sinh rất nhiều điều, hy sinh sự khám phá của mình, không nói nhiều đến những góc khuất của cuộc chiến. Hy sinh cả quyền suy ngẫm kỹ càng về cuộc chiến, suy ngẫm thấu đáo kiệt cùng về mối quan hệ giữa con người và chiến tranh. Phần công dân được đề cao, phần nghệ sỹ bị kìm nén. Chính vì thế sau này người ta đã chỉ rõ, văn học thời đó bị hạn chế sự đa dạng, hạn chế miêu tả bi kịch, ít nói đến con người cá nhân.

Ngày 30/4/1975, đó là mốc dấu trong cuộc đời của cả một dân tộc, chúng ta chuyển từ trạng thái chiến tranh sang hòa bình. Ngày hòa bình đến là cái đích lớn nhất của người lính, sau đó là cái gì thì không quan trọng nữa. Khi ấy, tôi chỉ khao khát được về nhà và đi học Tổng hợp Văn. 

Sau năm 1975, tôi vẫn ở lại sư đoàn, làm trợ lý văn hoá, chép sử của sư đoàn. Đó vừa là nhiệm vụ nhưng cũng là một món nợ tôi muốn thực hiện. Biết bao nhiêu đồng đội đã ngã xuống. Biết bao nhiêu người đã không còn được sống dù họ đã đến cửa ngõ Sài Gòn, đã đếm được từng phút trước giờ độc lập. Tôi muốn viết lại những điều đó cho trung đoàn.

Đến tháng 10/1976, tôi được điều động về Tổng cục Chính trị quản lý và dự trại sáng tác dài hạn của quân đội, sau này các trại viên của trại sáng tác ấy hầu hết đều trở thành học viên khoá I, Trường Viết văn Nguyễn Du. Mấy năm sau năm 1976, tôi hoàn thành cuốn sách sử của sư đoàn. Nhưng không chỉ có vậy, tôi đã viết những cuốn sách khác, lấy nguyên mẫu từ những chiến công của đơn vị mình.

Như "Trong cơn gió lốc" lấy trận truy kích địch ở Phú Bổn, hay "Trước ngưỡng cửa bình minh" là trận Đồng Dù. Một cuốn tiểu thuyết khác là "Không phải trò đùa", tôi viết về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam. Cuốn sách này nói về một dân tộc đang ra khỏi cuộc chiến tranh chống Mỹ, nhưng đồng thời lại phải bước vào cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc mới. Đó là hai quá trình rất đau đớn. Có những người lính chưa kịp về tới nhà lại quay lại mặt trận. Biết bao là mất mát hy sinh. Tôi đã viết trong trạng thái xúc động như thế. Những cuốn sách ấy được viết bằng đầy ắp những dòng văn chương tả trận, nhưng người ta thích nó bởi nó được viết bằng con mắt quan sát của những người lính thật.

Quay trở lại việc nói về viết sau 1975, thì tất nhiên, tôi cũng như nhiều đồng nghiệp gắn bó với đề tài chiến tranh, chúng tôi đã có được một khoảng lùi về thời gian, để có cái khám phá về cuộc chiến toàn diện hơn, nhất là cái khám phá về xã hội học chiến tranh, về con người,về sự hình thành của cái xã hội "tất cả cho tiền tuyến" những năm tháng ấy, mối quan hệ giữa các cá nhân, những hy sinh vì lợi ích của cộng đồng.

Giống như trước đây chúng tôi viết về một đám cháy. Khi ấy không có thời gian và tâm trí tĩnh lặng để suy xét căn nguyên. Còn bây giờ, thì chúng tôi hiểu đám cháy ấy xuất phát từ đâu, người ta đã làm gì, ứng xử với nhau như thế nào xung quanh đám cháy ấy. Thời gian giúp người ta làm được những việc như vậy.

- Người lính trong "Những bức tường lửa" - cuốn tiểu thuyết gần nhất của anh, đã bắt đầu có những phân rã về mặt ý thức. Những bức tường lửa như những biểu tượng của những người lính, họ đã vượt qua trong chiến tranh để chiến thắng, nhưng trong đời sống hôm nay, họ sẽ ứng xử thế nào. Đây được hiểu là một bước chuyển trong phong cách của anh?

- Nó có thể coi là như vậy. "Những bức tường lửa" đã có độ lùi thời gian để tôi nhìn lại cuộc chiến; đã có hơi hướng của sự chiêm nghiệm, bên cạnh miêu tả chiến tranh đã có suy ngẫm về nó, về quan hệ giữa người với người, giữa được và mất. Một suy ngẫm về chiến tranh tương đối toàn diện.

- Như anh vừa nói, đã đến lúc chúng ta cần nhìn lại cuộc chiến một cách toàn diện hơn. Nghĩa là chúng ta dám nhìn cả vào những thất bại của mình trong những giai đoạn nhất định để nhìn nhận cuộc chiến tranh này và nhiều phận người thấu đáo hơn?

- Bây giờ viết xuôi chiều về chiến tranh sẽ rất khó thuyết phục. Những cái nhìn công bằng về cuộc chiến tranh đã có. Tất nhiên để công bằng là rất khó. Nên dễ đi từ cực này sang cực khác. Và như thế thì không đúng. Có những người viết nặng nề lắm, nhưng tôi đọc tôi hiểu rằng, trong chiến tranh mọi chuyện không phải vậy. Có những điều không lý giải được.


  Toàn Nguyễn(thực hiện)
1 | 2 | 3  >>Trang sau

Các bài mới:
     Nỗi niềm sâu kín (20/06)
     Tri chỉ bất họa (20/06)
     Góc độ bất ngờ (18/06)
     Người ươm mầm không mỏi (13/06)
     Bạn bè tốt khi cũ (12/06)
     Nhà văn Trường Thanh: Cuộc đời bao dung (12/06)
     Phải tìm được điểm đột phá (09/06)
Các bài đã đăng:
     Mỉm cười với số phận (12/06)
     Dao sắc không gọt được chuôi (11/06)
     Nên đi theo “trung đạo” (09/06)
     Nghệ sĩ hài Văn Hiệp: Bước đầu vào nghệ thuật (09/06)
     Bí quyết vươn lên đỉnh cao : Kỷ luật là trên hết (04/06)
     Tướng Trần Thiện Khiêm của chính quyền Sài Gòn cũ: Đòn xóc hai đầu (02/06)
     Khi đã rời khỏi quân ngũ (02/06)

Các tin khác 

Ý kiến của bạn
Tên của bạn:  
Email:
Tiêu đề:  
Tắt bộ gõ Tự động Telex VNI VIQR
 

LIÊN HỆ CAND
Hà Nội:
04.39420595
TP HCM:
08.38241917
NHẬN TIN THƯ
TIÊU ĐIỂM
Chân tướng quân Hoàng Hoa Thám: Huyền thoại linh thiêng
NSƯT Minh Châu: Không có thời gian để cô đơn
Nhà văn Chu Lai: Viết, nỗi cơ cực dịu dàng
Phạm Tiến Duật: Nhà thơ của những sự thiếu hụt
Tổng thống Nga Vladimir Putin: Không để ai xỏ mũi
Người đàn ông có đóa hoa trên tai
NSƯT Hoàng Cúc: Không ai chống được định mệnh
Bao giờ, phỏng vấn, một ông Hoàng?
MC Thảo Vân: Đã qua rồi những ngày đắng đót
Tấn Minh - Thu Huyền: Giá trị thực của cuộc đời là hạnh phúc
Người sẽ trở thành Tổng thống mới ở nước Nga từ ngày 7/5/2012: Cá tính từ nhỏ
Lê Hoàng vướng víu thị phi
Tướng Cao Văn Khánh: Chuyện buồn đổ cả xuống sông
Nhà văn Nguyễn Thị Minh Ngọc: Sau những tàn phai
Nhà báo Hữu Thọ: Thẳng thắn và chân tình
Người đời cũng lắm thị phi
Nhạc sĩ Phú Quang: Anh bỗng thấy thân phận mình bé nhỏ
Danh hài Xuân Hinh: Kiếp hề đắng gọi
Cố lãnh tụ CHDCND Triều Tiên Kim Jong-il: Suốt đời tôi lúc nào cũng học
Vĩnh viễn Pele
Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên: Việc càng khó, càng muốn làm
Nhà văn trinh thám James Patterson: Tôi chỉ là người kể chuyện
Thiếu Hạnh Nguyên: Bí ẩn về thời con gái ở rừng nằm võng
NSƯT - Đạo diễn Nguyễn Thước: Nếu chỉ còn một ngày được sống
Bảy nốt nhạc trên đồi Châu Ê
Giáo sư Vũ Khiêu: Những lần thoát hiểm
Nữ hoàng điền kinh Trần Thị Soa: Lận đận cuối vinh quang
NSƯT Chiều Xuân: Chồng nấu cơm cho vợ… học bài
Nhà điêu khắc Lê Công Thành: Người cai trị "vườn địa đàng"
Nghệ sĩ Hoàng Cúc: Tìm về bình yên
Lặng lẽ Lê Khanh
“Trong chính trị, tôi là người thất bại”
Nhà văn Kim Lân: Cá tính phải mạnh!
NSƯT Thanh Lam: Không đòi những gì tốt hơn…
Anh hùng Ngô Thị Huệ: Đi giữa hiểm nguy
Một nửa của ba một nửa của mẹ...
Đúng nên bị "đánh"...
Doanh nhân đất Việt: Nam Cường - trí lớn, lòng son
Tôi có một ngôi sao Thiên Y chiếu mệnh
Nhà báo Hữu Thọ: Không phóng đại
"Vàng đen" tối thượng
Anh hùng Hoàng Minh Đạo: Nhà tình báo huyền thoại
Tổng thống Nga Dmitri Medvedev: "Tất cả chúng ta đều là những người bình thường"
Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình: Nối nghiệp cha anh
Hàn Mặc Tử qua ký ức của người thân
Thiên tài âm nhạc Chopin: Yêu là chết trong lòng một ít
NSND Trần Hiếu: Cái sai lớn nhất là yêu lầm người
Danh thủ Hồng Sơn: Trời thương người hiền
Giáo sư Ngô Bảo Châu đoạt giải Toán học Fields: Vinh quang Việt Nam
Thi sĩ Hàn Mặc Tử: Trải niềm đau trên mảnh giấy mong manh
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp: Còn mong gì hơn nữa?!
Nhà thơ Chế Lan Viên: Cắt đứt lòng anh trăng của em
Đắng đót ký ức thời cải tổ
Nghệ sĩ Kim Chi: Nhan sắc trời cho đôi khi cũng là tai họa…
NSƯT Hà Xuyên: Đi tiếp cùng “Biệt động Sài Gòn”
Nguyên soái G.Zhukov: Sống ở lòng dân
Hai người đàn bà trong căn nhà búp bê
Nhà văn Lê Lựu: Cái Tết buồn nhất trong đời người
NSND Như Quỳnh: Đóa hoa lài thơm mát
Ca sĩ Phi Nhung: Đời tôi…
Bắt con chim đậu, không bắt con chim bay
Có một Phương Thanh…
Tổng Giám đốc Tập đoàn Bảo Sơn: Gian nan là nợ
Rằng thương cái bóng bên chồng
Một năm làm chủ Điện Kremli
Ca sĩ Hồng Hạnh: Xa rồi tóc xõa hát bi ca
Một cuộc đời chìm nổi
Những tâm tư mang tên Gorbachev
Người đàn bà của những ranh giới
Nhạc sỹ Hồng Đăng: Đoạn trường ai đã qua cầu lênh đênh
Danh tướng một thời
Người hát bè trầm
Chuyện với trưởng nam nguyên soái Trần Nghị
Thầm lặng Tướng quân
Chủ tịch Đảng Cộng sản Nga Guennadi Ziuganov: Niềm tin còn lại
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn: Tận hiến cho khoa học
Lãnh tụ Xôviết Vladimir Ilich Lênin: Một người Nga chân chính
Nhà thơ Phạm Tiến Duật: Những bài thơ cuối
Người mang 18 ki-lô vàng đi xuyên bán đảo Đông Dương
Giã biệt khung trời
Nữ Thủ tướng mới của Israel, Tzipi Livni không dễ bị hối lộ
Lê Thái Tổ, lần duy nhất lau đá đề thơ
Con khó hơn cha!
Nhà khoa học vật lý Đỗ Đình Chiểu: Lời nguyền tuổi 15
Lòng yêu không thỏa
Chí công vô tư
Tìm trong vô thường
Làm được thơ, làm được chính trị gia
“Điệp viên” không số
Sức sống trường tồn
Lãnh tụ Xôviết J. Stalin: Vẫn là một biểu tượng
Không đẽo chân cho vừa giày
Chuyện đời bất ngờ của Vua Karl XIV Johan
Nhà văn hóa Lê Quý Đôn: Đa đoan nhập thế
Thiếu tướng, nhà văn Hồ Phương: Đừng bắt bẻ tôi!
Người từng giữ chức Thủ tướng Nga thời Xôviết 12 năm liền
Người giữ Sổ tiết kiệm của Bác Hồ
Phụ trách biên tập: Trần Thị An Bình - Nguyễn Trang Dũng - Trần Anh Tú
© 2004. Báo Công An Nhân Dân, Chuyên đề An Ninh Thế giới và Văn nghệ Công An. All rights reserved.
® Liên hệ với Tòa soạn khi phát hành lại thông tin từ Website này. Ghi rõ nguồn "CAND.com.vn"