Chào bạn!      
Trang nhất > An Ninh Thế Giới Cuối Tháng > Chuyên đề
Đại thi hào Nguyễn Du: Trước miền tịch diệt
9:00, 23/01/2008

Tượng đài thi hào Nguyễn Du.

Năm Quý Dậu 1813, Nguyễn Du được thăng chức Cần chánh điện đại học sĩ và được cử làm Chánh sứ của sứ bộ Nguyễn triều sang Trung Quốc. Năm Giáp Tuất 1814, sứ bộ trở về, ông được thăng Hữu tham tri Bộ Lễ, hàm tam phẩm.

Trong khoảng thời gian một năm ấy, mối bang giao Trung - Việt thu hái được những kết quả gì không rõ, nhưng cái được lớn nhất của văn học sử Việt Nam là tập "Bắc hành tạp lục" - tập thơ mà Nguyễn Du đã sáng tác trong thời gian đi sứ.

Trong toàn bộ các thi tập của Nguyễn Du, không ở đâu mà mồ mả đền miếu lại xuất hiện nhiều như ở "Bắc hành tạp lục".

Trên lộ trình từ Trấn Nam quan tới Bắc Kinh, hễ đâu có mồ mả đền miếu của các danh nhân trong lịch sử dài dằng dặc của nước Trung Hoa, thì ông Chánh sứ Nguyễn Du đều dừng lại ở đó và có thơ cảm tác...

Nhà Nho vốn là mẫu người hậu cổ bạc kim, vậy nên Nguyễn Du yêu người xưa hơn người nay, thì âu đó cũng là lẽ thường.

Vả lại, trong sự chế định của lịch sử, vốn liếng văn hoá của nhà nho Việt Nam cho đến đầu thế kỷ XIX được hình thành không gì khác là từ những Kinh, Sử, Tử, Tập Trung Hoa, vì thế mà việc Nguyễn Du dừng chân và làm thơ tại mộ, miếu của các danh nhân kể trên, cần phải xem như là hành trình ông đi ngược thời gian, sống lại với nền văn hoá đã từng nhào nặn nên con người mình.

Nhưng tại sao ông lại cứ "nhè" nơi có mồ mả đền miếu mà đến? Phải chăng là trong sâu thẳm con người của một đường quan đang hoạn lộ hanh thông như ông, vốn đã nhú sẵn cái mầm của sự chết, để nên, như là "ma đưa lối, quỷ dẫn đường", những âm vọng từ thế giới bên kia cứ kéo ông đến trước ngưỡng cửa miền tịch diệt?

Và phải chăng ở đây, trong âm u nhang khói, trong những cuộc trò chuyện siêu thời gian, Nguyễn Du đã cho thấy cốt lõi diện mạo tinh thần của mình?

Truyện Kiều - Nguyễn Du.

Có thể miễn cưỡng chia chủ nhân của các ngôi mộ, miếu mà Nguyễn Du đã đến làm thơ ai điếu thành hai loại, căn cứ theo hành trạng của họ khi sinh thời.

Loại thứ nhất là các chính khách và các võ tướng: Mã Viện, Âu Dương Tu, Tỉ Can, Bùi Độ, Phạm Tăng, Hạng Vũ, Chu Du, Liễu Hạ Huệ... Loại thứ hai là các văn nhân: Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Lưu Linh...

Với loại thứ nhất, Nguyễn Du ghi nhận ở họ những phẩm chất siêu quần, những võ công oanh liệt, những kích thước cá nhân vượt quá cỡ người thường… Thế nhưng, sau khi đã ghi nhận ở họ những nét trội không dễ gặp trong nhân quần, Nguyễn Du cũng ngay lập tức nhận ra sự vô nghĩa của các giá trị đó trước cái chết, trước sự phôi pha của thời gian…

Dường như, khi đối diện với di tích tang thương của những cuộc đời đã từng làm khuynh đảo lịch sử, Nguyễn Du đã cảm thấu tận đáy sức mạnh bôi xoá của cái chết, sức mạnh vô nghĩa hoá tất cả của thời gian.

Đặc biệt, trước mộ của Sở Bá Vương Hạng Vũ và quân sư Phạm Tăng, Nguyễn Du chợt hé ra tư tưởng về thiên mệnh:

"Bạt sơn giang đỉnh nại thiên hà?/ Túc hậu du du kỳ thiển sa".

Nghĩa là: Có sức mạnh dời núi nhấc vạc, nhưng trời không giúp thì làm thế nào? Mối hận nghìn đời gửi dưới lớp cát mỏng (Sở Bá Vương mộ. Bài 1).

"Cấp thức bại vong phi chiến tội/ Không lao trí lực dữ thiên tranh".

Nghĩa là: Đến khi bại vong không phải vì đánh trận kém, thì mới thấy đem trí chống lại trời là uổng công (Sở Bá Vương mộ. Bài 2).

"Nhãn khai Bá Thượng ngũ vân phù/ Cấp cấp phương đồ nhất kích mưu

Đãn đắc thử tâm vô phụ Sở/ Bất tri thiên mệnh dĩ quy Lưu".

Nghĩa là: Mắt đã nhìn thấy mây năm sắc trên đất Bá Thượng, mà còn chăm chăm lập mưu giết Lưu Bang. Chỉ được điều lòng không phụ Sở. Không biết rằng mệnh trời đã về họ Lưu (Á phủ mộ).

Có thể thấy, thiên mệnh đã được Nguyễn Du cảm nhận và sử dụng như một chìa khoá tư tưởng để giải mã thất bại của Hạng Võ, Phạm Tăng trước Hán Cao tổ Lưu Bang trong cuộc đấu tranh giành ngôi hoàng đế.

Thực ra, viện tới thiên mệnh trong những trường hợp như thế này là một nếp mòn quen thuộc của nhà Nho khi buộc phải lý giải lịch sử.

Nhưng với Nguyễn Du, hình như ở đây cái tư tưởng duy tâm ấy lại được nối kết với những kinh nghiệm hết sức thực tế từ cuộc đời ông, từ bối cảnh xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Đó là một thời đầy tao loạn.

Và đó cũng là một thời đủ sức kích thích những ai có tài năng vượt trội, có hùng tâm tráng chí dám nghĩ tới việc tạo lập một tên tuổi, một sự nghiệp, thậm chí một ngôi báu, giữa cảnh đao kiếm phân tranh.

Nhưng tới khi Nguyễn Ánh thống nhất Nam Bắc, lên ngôi hoàng đế (1802), thì ngọn lửa tham vọng này dần bị dập tắt. Việc củng cố một nhà nước Nho giáo hoá và một chính quyền quân chủ chuyên chế thực sự mạnh đã là cái đích để Gia Long hoàng đế không thương xót khi tận diệt tất cả những ai chống đối (hoặc chỉ tỏ ra có vẻ tơ hào đến việc chia sẻ quyền lực đối với tôn quân). Hàng loạt các vị khai quốc công thần đã trở thành ma không đầu từ đấy.

Và đó là cái gương tày liếp đủ sức làm run sợ kẻ anh hùng, đủ sức xác lập niềm tin trời đã trao mệnh về tay nhà Nguyễn. Phải vì thế  chăng mà từ năm 1802 trở đi, tịnh không thấy ở đâu trong thơ chữ Hán Nguyễn Du có sự xuất hiện của hình ảnh tráng sĩ - một hình ảnh dẫu sao cũng gợi lên ít nhiều tính chất của con người hành động.

Độc chiếm thi giới chữ Hán Nguyễn Du là con người cô độc sầu não; con người triền miên trong suy tưởng u ám về cõi người, cõi đời…

Nếu có thể có một giá trị nào đó trường cửu với thời gian, bất chấp cái chết vật chất tất yếu của người sáng tạo ra nó, với Nguyễn Du, đó là văn chương. Niềm xác tín này được bộc lộ rõ nét trong tâm sự Nguyễn Du khi ông đứng trước mộ của các văn nhân - Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Lưu Linh - kiểu người đã khuất loại hai mà ông đã làm thơ ai điếu trên lộ trình đi sứ.

Từ khoảng cách thời gian dằng dặc 2.000 năm, Nguyễn Du vẫn nhận thấy sự hiện diện đậm đặc của Khuất Nguyên trong thời đại mà ông đang sống:

"Hiếu tu nhân khứ nhị thiên tải/ Thử địa do văn lan chỉ hương"

 Nghĩa là: Người hiếu tu sống cách đây 2.000 năm, mà nay đất này còn thơm mùi hoa lan hoa chỉ (Tương Đàm điếu Tam lư đại phu 1).

Hoa lan hoa chỉ vốn là biểu tượng của sự cao khiết - một phẩm chất trội trong nhân cách Khuất Nguyên, và mặc cho bao năm tháng trôi qua, người đời vẫn luôn vinh danh Tam lư đại phu ở khía cạnh này.

Nhưng liệu sự vinh danh có thể là hiện thực hay không, nếu như Khuất Nguyên trước lúc trẫm mình xuống sông Mịch La không di chúc lại cho đời một "Sở từ vạn cổ thiện văn chương"? (Nghìn đời sau Sở từ vẫn là áng văn chương hay nhất - Tương Đàm điếu Tam lư đại phu 1).

Câu trả lời đã rõ, người hậu thế biết đến Khuất Nguyên và ngưỡng phục trước nhân cách cao khiết của ông là nhờ vào di sản thi ca tuyệt vời mà ông đã sáng tạo.

Sở Từ - ở đây Nguyễn Du muốn nói tới tác phẩm Ly Tao của Khuất Nguyên - là một đặc phẩm sáng chói trong văn học Trung Hoa thời Tiên Tần và cả trong văn chương nhân loại nói chung.

Chính nó, chứ không phải cái gì khác, đã làm bất tử hoá cho tên tuổi Khuất Nguyên, dẫu rằng - như một sự cợt đùa của số phận - di tích hình hài vật chất của ông đã hoàn toàn bốc hơi: "Ngư long giang thượng vô tàn cốt" (Dòng sông đầy rồng cá, không tìm thấy nắm xương tàn - Tương đàm điếu Tam lư đại phu 1).

 Ở bài "Tương đàm điếu Tam lư đại phu" thứ hai, Nguyễn Du đặt ra một câu hỏi rất đáng chú ý:

 "Trực giao hiến lệnh hành thiên hạ/ Hà hữu Ly Tao kế Quốc phong?".

Nghĩa là: Nếu hiến lệnh của ông mà được ban hành khắp thiên hạ, thì liệu có Ly Tao nối tiếp Quốc phong không?

 Hỏi, nhưng đã là trả lời. Nếu chủ trương chính trị của Khuất Nguyên được Sở Hoài Vương tín nhiệm và áp dụng trong thực tế, thì ông đã không bị đày đi Giang Nam, để rồi sau đó phải chọn dòng Mịch La làm mồ chôn hoài bão của mình.

Và như thế cũng có nghĩa là ông sẽ không trút những dồn nén vào sáng tạo nghệ thuật, và trên đời sẽ chẳng có áng thơ Ly Tao bất hủ!

Nói một cách khác, nếu ông quan - nhà chính trị trong Khuất Nguyên được đắc ý, thì sẽ chẳng bao giờ có một Khuất Nguyên - nhà thơ mà muôn đời sau kính phục. Dường như, đằng sau nhận thức này, Nguyễn Du đã hé lộ một cách đánh giá giá trị của mình, hơn thế, một xác tín của mình. Với ông, điều thực sự có ý nghĩa là văn chương, là con người thi nhân của Khuất Nguyên, chứ không phải là con người chính trị và những kế sách trị quốc của Khuất Nguyên.

Bản thân Nguyễn Du cũng đã tự hiện thực hoá xác tín này bằng chính cuộc đời của mình. Làm quan, dù được hết sức tín nhiệm, song ông chẳng thiết tha chút nào với công việc của "phụ mẫu chi dân".

Sách "Đại Nam chính biên liệt truyện" chép rất rõ: "Đối với nhà vua thì ông chỉ giữ hết bổn phận, chứ không hay nói năng điều gì. Có khi vua đã quở rằng: Nhà nước dùng người tài giỏi thì cất lên, không hề phân biệt người Bắc người Nam. Khanh với Ngô Vị đã được trẫm biết tài mà bổ dụng, làm quan đến chức tham tri, biết điều gì cứ nói để làm hết chức trách của mình, sao lại cứ rụt rè, sợ sệt, chỉ dạ dạ vâng vâng thế thôi?". Ấy thế nhưng, đối với văn chương, người ta lại thấy một Nguyễn Du khác hẳn, quyết liệt, hết mình…

"Đại nam chính biên liệt truyện" còn chép lại rất rành rọt về những giờ phút cuối đời của Nguyễn Du: "Đến khi ốm nặng, ông không chịu uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân. Họ nói với ông đã lạnh rồi, ông nói được, rồi mất, không chối lại một lời".

Đương nhiên, đây là một hành vi tự tận bình tĩnh mà đầy quả quyết. Nhưng không nên xem sự kiện này như một điều gì đó bất thường trong cuộc đời Nguyễn Du.

Chuyến đi sứ Trung Quốc bảy năm trước (1813) và những cuộc trò chuyện xuyên thời gian nơi mồ mả đền miếu của Nguyễn Du đã là điềm báo trước cho một sự khước từ sự sống.

Ông "không chối lại một lời", bởi có lẽ ông hoàn toàn ý thức được rằng, những gì mình đã viết ra chính là chúc thư trung thực nhất, đắc ý nhất mà ông có thể có cho hậu thế. Và không hồ nghi gì nữa, sự bất tử của Nguyễn Du đã đâm chồi từ những giá trị mà ông sáng tạo ra - với tư cách một Thi Sĩ viết hoa!


  Hoài Nam

Các bài mới:
     Chẳng dại đôi lần (24/07)
     Nghệ sĩ và truyền thông: Chuyện nghề vẫn vậy (22/07)
     Bồ mới - Vợ cũ (18/07)
     Nếu Nhà Trắng thất thủ... (17/07)
     Hoa hậu cũng buồn (01/07)
     Tản mạn chuyện World Cup của bóng đá Việt Nam (01/07)
     Á hậu điện ảnh Dương Cẩm Lynh: Tin đồn thì chỉ là tin đồn thôi (27/05)
Các bài đã đăng:
     Thị trường ICT 2007: Những hệ lụy từ được và mất (17/01)
     Nhà trắng: Tính cách nào sự nghiệp ấy (15/01)
     Làm theo cái đúng (08/01)
     Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa XII: Thực tình, thực việc (28/12)
     Phải biết chấp nhận những cú sốc (03/12)
     Nhà văn Trang Hạ: Mẹ dạy cho tôi sự chịu đựng (13/11)
     Nhà văn Lê Lựu: Tôi thấy mình là đứa con bạc bẽo (11/11)

Các tin khác 

Ý kiến của bạn
Tên của bạn:  
Email:
Tiêu đề:  
Tắt bộ gõ Tự động Telex VNI VIQR
 

LIÊN HỆ CAND
Hà Nội:
04.39427285
TP HCM:
08.38241917
TIÊU ĐIỂM
Đùa dai thành dại
Người nông phu tốt
Mặt trái hào quang
Quả trứng con gà
Tình có như không
Chuyện nợ chuyện nần
Buông tình, câu tiền
Tưng...tửng...từng...tưng
Diễn viên Ngọc Lan: Khi đã cố tình làm trò lố…
Thương nhớ… người dưng
Người mẫu Ngọc Quyên: “Không nên thù nhau đến thế”
Diễn viên Lý Nhã Kỳ: Được vạ thì má sưng
Những người ôm bom
Hoa hậu Thùy Dung: Tôi chọn giải pháp im lặng trước mọi tin đồn
Ca sĩ Mỹ Linh: Rủ nhau đi “chém gió”
Diễn viên Hiếu Hiền: “Tôi không cần làm chiêu”
Thi sĩ Nga Nikolai Rubtsov: Xót xa giùm chút chút dịu dàng tình tôi…
"Người đàn bà giấu đêm vào trong tóc…"
9 tai tiếng và một tên tuổi
Thầy- trò và…cơ chế thị trường
Phụ trách biên tập: Trần Thị An Bình - Nguyễn Trang Dũng - Trần Anh Tú
© 2004. Báo Công An Nhân Dân, Chuyên đề An Ninh Thế giới và Văn nghệ Công An. All rights reserved.
® Liên hệ với Tòa soạn khi phát hành lại thông tin từ Website này. Ghi rõ nguồn "CAND.com.vn"