Chủ Nhật, 10/10/2010 - 3:50 PM

Hà Nội sáng trong tối

Trên tờ "Trung Bắc Chủ nhật" số 28, ra ngày 8/9/1940, nhà văn Lê Văn Trương, "người hùng" của văn đàn Việt Nam một thuở đã mở đầu loạt bài viết về Hà Nội của mình bằng một bài có cái tên: "Hanoi là gì?". (Xin lưu ý: nhà văn không viết "Hà Nội", mà viết "Hanoi"- hai chữ viết liền, không dấu- chừng như ông ngầm nói với bạn đọc rằng ông sẽ nhìn Hà Nội bằng con mắt của một người châu Âu vậy).

Trong bài, sau khi đã buông một định nghĩa theo kiểu trùng ngôn (Hanoi là Hanoi) Lê quân "chơi" tiếp một đoạn khá dài để làm bật lên ấn tượng về Hà Nội như là bức tranh của những mảng màu đối nghịch: "Những kẻ chỉ sống với Hanoi rực rỡ, Hanoi phố Tràng Tiền, nhà Gôđa, Hanoi Hàng Ngang, Hàng Đào, Hanoi Hồ Tây, Trúc Bạch, Hanoi ôtô, nhà lầu, Hanoi phong lưu với những cô thiếu nữ xinh tươi, thướt tha trong chợ phiên, quần ngựa, Hanoi hào phóng với vũ nữ, đào nương, với những trận cười suốt sáng thì cho Hanoi là thiên đường.

Mà những kẻ đã từng sống với Hanoi ngoại ô, Hanoi Hỏa Lò, Hanoi Lục xì, Hanoi Hàng Mành, Sầm Công, Hanoi xưởng thợ, nhà máy, Hanoi lầm than với những kẻ đói nheo, Hanoi khó khăn với những thằng ăn mày lăn ra nắng lạy ông lạy bà suốt ngày, Hanoi ghê tởm với những quân buôn thịt người nó ép con và em nó đi kiếm tiền thì Hanoi là địa ngục".

Như vậy, từ cái nhìn của Lê Văn Trương, thiên đường và địa ngục, giàu sang và đói nghèo, thừa mứa và thiếu thốn, rực rỡ và nhếch nhác, thơm tho sạch sẽ và bẩn thỉu hôi hám... tất cả đều hiện diện trên thân xác của Hà Nội (ở đây là Hà Nội những năm trước Cách mạng tháng Tám). Có "cái này" và có cả "cái kia", với tư cách là cái đối nghịch với "cái này", trong cùng một Hà Nội.

Tháp Bút Hà Nội.  Ký họa: Đỗ Văn Huy.

Vì thế, để "nối điêu" Lê quân, người viết bài này xin được thêm rằng còn có một "Hà Nội sáng" và một "Hà Nội tối". Cái sáng ấy, cái tối ấy càng được tăng thêm sắc độ khi chúng chồng lên nhau, hòa lẫn vào nhau. Đọc lại một vài tác phẩm văn chương- những dấu tích ngôn từ- ta sẽ thấy rõ hơn điều đặc biệt thú vị này.

Truyện ngắn "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam (in trong tập "Nắng trong vườn", NXB Đời nay, 1938) lấy bối cảnh không gian là một huyện nhỏ nằm trên lộ trình tàu hỏa Hà Nội chạy qua (huyện Cẩm Giàng, quê gốc của ba anh em nhà Nguyễn Tường chăng?). Thời gian vào đêm: "Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại sẫm đen hơn nữa".

Trên cái nền đen của đêm ấy, ánh sáng phố huyện chỉ tụ lại ở bếp lửa của một hàng phở gánh và vài ngọn đèn dầu leo lét. Phối cảnh sáng- tối thay đổi ngay lập tức, trong khoảnh khắc, khi đoàn tàu hỏa chạy qua: "Liên dắt em đứng dậy để nhìn đoàn xe vụt qua, các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường. Liên chỉ thoáng trông thấy những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng. Rồi chiếc tàu đi vào đêm tối, để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt".

Đoàn tàu ấy, cái thứ ánh sáng đột ngột hiện lên trong đêm ấy, với hai đứa trẻ của phố huyện nghèo chính là một ký hiệu của Hà Nội, "một vùng sáng rực và lấp lánh" trong ký ức xa xôi của chúng, một thiên đường mà chúng vẫn hằng mơ ước có ngày được đặt chân trở lại, một địa chỉ cho cái khát vọng thay đổi cuộc sống manh mún nhàn nhạt nơi tỉnh lẻ.

Người ta đã đổ nhiều mực để ca ngợi phong cách nghệ thuật đặc sắc của văn xuôi Thạch Lam, nhưng theo tôi, rất đáng nói ở truyện ngắn này là cái tài của Thạch Lam khi ông viết về ánh sáng trong bóng tối: thứ ánh sáng như ảo ảnh mà đô thành Hà Nội từ phía xa kia đã thắp lên trong bóng tối buồn bã của những đời người.

Viết về ánh sáng thực của một Hà Nội thực- nghĩa là đặt Hà Nội trong một tọa độ khác với Thạch Lam- là bài bút ký "Một lần tới Thủ đô" của Trần Đăng (viết tháng 1 năm 1946, in trong "Sưu tập trọn bộ tạp chí Tiên Phong 1945-1946", NXB Hội Nhà văn, 2002).

Theo bước chân băng qua nội thành Hà Nội của bốn chiến sĩ mới trở về từ chiến khu- họ về lối cầu Long Biên, đích đến của họ là một trường quân chính ở ngoại ô phía bên kia thành phố- Trần Đăng đã vẽ lại rất sinh động cảnh một đêm trong lòng Hà Nội tạm chiếm: "Cho tới đầu phố Hàng Ngang thì đèn thành phố bật sáng. Và cùng với đèn thành phố một cảnh tượng tưng bừng cũng sáng bật lên".

Những cảnh tượng nào vậy? "Rất nhiều kiều dân và võ quan ngoại quốc trong những bộ đồ len ấm áp sang trọng tỏa ra những hương thơm ngào ngạt của nước hoa và yên hương. Những chiếc áo khoác trắng như tuyết trên vai những thiếu nữ Việt Nam hay những thiếu phụ mới từ miền Bắc xuống đây, thấp thoáng trong những chiếc xe hơi kiểu lạ, bóng loáng, xịch máy từ từ đi trong phố... Phòng trà ở góc phố, bàng bạc một ánh sáng đều đều, dịu dàng. Những thanh niên tuấn tú ngồi bên những màu áo thêu hoa. Một tiếng đàn rền rĩ ở những cung trầm. Xa chút nữa, cánh cửa một tiệm nhảy hé mở để một võ quan ngoại quốc cao lớn lách vào cùng với một tà áo đỏ và để thoáng lộ ra  những nếp thướt tha, cũng như chợt thoát bay ra ngoài tiếng đàn lả lướt".

Sang trọng, hoa lệ tới mức trở thành xa xỉ, cái vẻ thanh bình no đủ tạm bợ của một đêm Hà Nội giai đoạn 1946- 1954 hiện lên thật rực rỡ trong thứ ánh sáng phù hoa, nhưng nó chỉ là những miêu tả của một người quan sát "ở ngôi Thượng đế": từ trên cao, thấy hết, biết hết. Nó không lọt vào tầm mắt các chiến sĩ. Họ đi hàng một- lối đi rừng, người đi sau giẫm lên bước chân của người đi trước- tác giả đã vài lần nhấn mạnh chi tiết này. Và họ băng qua những cảnh tượng ấy trong trạng thái "mắt mở mà không trông, tai lắng mà không nghe". Xét cho cùng, ấy bởi họ chính là những người mang sứ mệnh dập tắt thứ ánh sáng trưởng giả kia.

Hai tác phẩm trên cho ta ví dụ về Hà Nội với cái ánh sáng cường độ mạnh được đêm đen làm nền. Nhưng còn thứ ánh sáng làm nền cho đêm đen thì sao? Trước năm 1945, trong thiên phóng sự "Mấy cái Tết trên vỉa hè Hà Nội" (tạp chí Ngày nay, không rõ số nào) Tam Lang đã viết về cái khe tối tăm bẩn thỉu giữa hai dãy nhà, ẩm mốc, tối như bưng, là nơi nương náu của một ông cụ già không con cháu, lang thang, tật bệnh.

Trong cái khe giữa lòng Hà Nội ấy, ánh sáng bùng lên chỉ khiến đêm thêm dày hơn, tuyệt vọng: "Tôi đánh que diêm đưa nó vào tận tay ông cụ. Trên nõ điếu cày, đốm lửa ở que diêm run lật bật rồi tắt hẳn theo tiếng điếu kêu lọc xọc như kéo dài cái tịch của đêm khuya. Tàn lửa diêm vút qua trong khoảng tối như hai tia sợi vài giây cháy sáng rồi lại tối mò cả một khu vực".

Hay, ở bài "Một đêm họp đưa ma Phụng", với tâm trạng của kẻ chết đuối trên cạn, ông vua tùy bút Nguyễn Tuân đã tả thứ ánh sáng chập chờn đầy ma quái trong nhà cô đầu vào cái đêm trước hôm các văn hữu họp mặt để đưa đám Vũ Trọng Phụng: "Đêm ấy bên kia sông nhà hát lạnh như nhà mồ. Bọn ca nhi trông người nào cũng cao lênh nghênh. Sự nghèo đói làm cho người họ dài hẳn ra. Ngọn đèn dầu lạc chỉ là một ngọn đèn thờ. Người kép khẳng khiu như một cây khô, cũng chỉ đủ là nhạc công một phường bát âm cho nổi lên một bản hòa nhạc chết khi người ta dâng cơm cúng".

Những ví dụ kiểu như vậy kể ra không hết, song tôi chú ý nhiều hơn tới một trường hợp khác: tiểu thuyết "Sống mãi với Thủ đô" của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Trong tác phẩm này- đúng như tên gọi của nó, một tác phẩm có thể sống mãi với Thủ đô- Nguyễn Huy Tưởng đã nhìn ra và tái hiện, một cách hết sức bất ngờ, ánh sáng và bóng tối của Hà Nội trong thời điểm mang tính sinh tử- cái đêm Hà Nội vụt tắt điện để bắt đầu kháng chiến toàn quốc.

Ông để nhân vật Trần Văn của mình đứng bên Hồ Gươm, và thấy: "Hồ Gươm nằm dúi dụi trong bóng tối... Bên kia bờ Hàng Trống, đen như làng xóm trong đêm khuya. Vài con đom đóm lần đầu tiên anh trông thấy ở đây, bay trong các lùm cây. Nơi quen thuộc này chỉ còn là một cái gì rộng rộng trông trống, lành lạnh, mà gió thổi nhiều, dật dờ bốn phía. Thân cây quằn quại, vặn vẹo, lá thít lên đổ xuống. Đất rùng rùng, thỉnh thoảng lại như vỡ ra trong những tiếng nổ khủng khiếp".

Dày đặc là đêm tối, ánh sáng của vài con đom đóm lóe lên chỉ khiến cho đêm tối càng thêm tối đen lên. Nhưng điều đặc biệt chính là ở điểm này: ánh sáng đom đóm, thứ ánh sáng "nhà quê" giữa lòng đô thị hoa lệ. Nhà văn Nguyễn Minh Châu, trong bài tùy bút "Bên nhà văn Nguyễn Huy Tưởng cùng ngắm Hồ Gươm" (in trong tập "Trang giấy trước đèn", NXB Khoa học xã hội, 1994) đã có một nhận xét cực kỳ tinh tế- tinh tế đến mức có thể nói rằng nó đúng là nhận xét của một bậc thầy trước một bậc thầy- về chi tiết này: "Đôi lúc quen sống lâu ngày trong yên bình giữa phố xá với nhà cửa nguy nga, và đèn điện, nước máy, chúng ta quên mất rằng cái không khí đô thị mà chúng ta hít thở vẫn là không khí của nông thôn, do những làn gió thổi vào từ thôn dã rất gần gũi. Chúng ta quên mất rằng chúng ta vẫn mang sau gót chân mình những hạt đất bụi của thôn dã...

Quả thật Nguyễn Huy Tưởng đã có một cái nhìn khám phá khi ông chỉ cho chúng ta thấy trong cái giây phút đầu tiên khi chiến tranh vừa xảy đến đó, thành phố Thủ đô đầy hoa lệ và sang trọng đã hiện ra từ cốt lõi, gốc gác thôn quê của nó. Nguyễn Huy Tưởng đã đem thành phố Thủ đô hoa lệ hòa mình vào đất nước, chính điều đó có cái gì khiến chúng ta yên lòng. Mỗi con người Thủ đô chúng ta bình tâm hơn để đánh giặc".

"Thăng Long phi chiến địa", câu ấy không rõ đã xuất hiện vào thời nào, và phải chăng nó chỉ là sự cụ thể hóa cho ước mơ khôn nguôi về một đời sống thái hòa trường cửu của người Thăng Long- Hà Nội? Bởi lẽ, trong lịch sử, biết bao phen mảnh đất này đã phải chịu sự ngốn nuốt tàn bạo của lưỡi lửa chiến tranh. Nhưng, sự thực là cũng chính từ những lưỡi lửa ấy, Thăng Long- Hà Nội đã bừng lên ánh sáng của chiến thắng, của niềm tự hào dân tộc.

Để kết lại bài viết này, tôi muốn trích một đoạn văn cực tả về Hà Nội của thứ ánh sáng ấy, Hà Nội của một đêm tháng Chạp năm 1972, Hà Nội của một trận Điện Biên Phủ trên không sẽ không bao giờ mờ phai trong ký ức lịch sử: "Cơn bão lửa đã bắt đầu. Tiếng bom đêm nay rền hơn, nặng hơn. Nhưng đạn đại cao và rồng lửa của ta cũng bay lên nhiều hơn để vít đầu chúng xuống. Thành phố bỗng sáng rực lên như ban ngày.

Những người ngồi trong hầm nhìn rõ mặt nhau. Và nếu mỗi lần báo động đêm đều có cái ánh sáng này, thì ta có thể mang theo một cuốn sách để ngồi gần cửa hầm mà đọc. Những tiếng hò reo đã vang lên khắp thành phố: Cháy rồi! B52 cháy rồi! Không phải là một chiếc tàu bay cháy mà là một bể lửa xuất hiện giữa trời. Cái con quái vật này chứa trong bụng nó những hơn một trăm tấn chất đốt. Những đám lửa bay lả tả ra nhiều hướng.

Nó bùng lên thật dữ dội, nhưng rồi cũng lụi đi nhanh. Chắc đã có những người ghen với ông quay phim, nhiếp ảnh nào đó vớ được món bở" (Hữu Mai: "Hà Nội, bản anh hùng ca", in trong tập "Mặt đất bầu trời người Hà Nội", NXB Thanh Niên, 1973)

Hoài Nam
Phụ trách biên tập: Trần Thị An Bình - Nguyễn Trang Dũng - Trần Anh Tú
© 2004. Báo Công An Nhân Dân, Chuyên đề An Ninh Thế giới và Văn nghệ Công An. All rights reserved.
® Liên hệ với Tòa soạn khi phát hành lại thông tin từ Website này. Ghi rõ nguồn "CAND.com.vn"